một người lính nói về thế hệ mình
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với thế hệ trẻ, những con người sẽ là chủ nhân tương lai của đất nước. Con người sinh ra có số phận khác nhau. Vì vậy, mỗi người phải tự nhận thức về hoàn cảnh của mình mà đi lên.
Top 15 bài nghị luận về sự cống hiến trong cuộc sống - Bài văn mẫu 2. Thanh niên nói riêng, thế hệ trẻ nói chung luôn có một vị trí quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh.
Em quyết định chọn cho mình một tình yêu chân chính đó là màu áo lính mà bạn bè em thường gọi bằng cái tên "màu của sự nghèo nàn" em tin rằng đây là sự lựa chọn đúng củađời em, em sẽ sống bằng chính sự tự hào khi có trong mình một tình yêu của người lính.
Anh giải thích vợ cũ của anh gốc Việt, mẹ vợ là người Việt Nam. Bà theo chồng là lính Mỹ gốc Phi về nước sau khi quân đội rút khỏi Việt Nam. Anh và vợ có một con trai khoảng 10 tuổi, khi ly dị, đứa con ở với vợ. Rồi dần dần chúng tôi thân nhau hơn, hay ngồi ăn cùng
Nghĩ về một thế hệ đã vĩnh viễn ra đi . và đang sửa soạn ra đi Khánh Vân Mỗi năm cứ đến Ngày Memorial Day trên đất Mỹ, tôi lại tưởng nghĩ tới bao triệu người Việt Nam đã ra đi, đã hy sinh để bảo vệ cho chính nghĩa Quốc Gia trên quê hương Việt Nam tôi, nhất là trong Cuộc Chiến Ba Mươi Năm (1945-1975) vừa qua.
ibukota negara bagian texas amerika serikat tts. Bản quyền hình ảnh Getty Images Image caption Có thêm sách viết về người lính VNCH Những năm gần đây bắt đầu xuất hiện những nhà nghiên cứu trẻ nước ngoài gốc Việt thành danh với các công trình liên quan đến gốc rễ Việt Nam của họ. Tại Mỹ, nơi tập trung cộng đồng Việt kiều, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Việt nhận giải văn học Pulitzer năm 2015 cho tiểu thuyết The Sympathizer. Một người khác cũng ở Mỹ, Tiến sĩ Nguyễn Liên Hằng, được giải Stuart L. Bernath của Hội Sử gia Quan hệ Ngoại giao Hoa Kỳ năm 2013 nhờ cuốn Hanoi’s War An International History of the War for Peace in Vietnam. Úc, với số người gốc Việt ước tính hơn người, cũng chứng kiến sự xuất hiện của một số người lớn lên ở đây nhưng muốn viết về Việt Nam. Một mảng được họ quan tâm là tiếng nói của thế hệ phi cộng sản trong chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Trải nghiệm từ cha mẹ Cuốn sách gần đây, South Vietnamese Soldiers Memories of the Vietnam War and After in năm 2016, là một nỗ lực như vậy của Tiến sĩ Nathalie Huynh Chau Nguyen, dạy tại Đại học Monash, Úc. Cuốn sách bắt đầu từ dự án nghiên cứu của tác giả về các cựu binh Việt Nam Cộng Hòa VNCH, chủ yếu định cư ở Úc, gồm tổng cộng 54 cuộc phỏng vấn. Những cựu binh được phỏng vấn, người già nhất sinh năm 1917 và trẻ nhất 1955, kể lại cuộc đời họ. Như tác giả cho hay, quan niệm của chính bà về cuộc chiến chịu ảnh hưởng từ trải nghiệm của cha mẹ. Bản thân cha của tác giả, Nguyễn Triệu Đan, là Đại sứ cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa ở Nhật Bản 1974-75. Người cha rời miền Bắc Việt Nam năm 1950, mang theo bộ gia phả chữ Hán do người ông soạn, tiếp tục truyền thống học tập của gia đình. Lấy bằng tiến sĩ luật ở Pháp, ông Đan trở thành nhà ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa, tham dự phái đoàn VNCH tại Hội Nghị Paris dẵn tới Hiệp định 1973. Sau ngày 30/4/1975, gia đình tị nạn ở Melbourne, Úc. Bà Nathalie Nguyễn từng gợi ý để cha viết lại hồi ký, nhưng ông không làm vì cảm thấy chủ đề còn quá đau đớn khi nhắc lại. Nhưng bà Nathalie Nguyễn, sau khi nhận bằng tiến sĩ ở Đại học Oxford, vẫn băn khoăn khi giới viết sử hầu như bỏ qua trải nghiệm của người lính và thường dân miền Nam trong cuộc chiến kết thúc năm 1975. Nữ quân nhân Qua các câu chuyện cá nhân, cuốn South Vietnamese Soldiers như một lược sử về những người lính Việt Nam, bắt đầu từ thời tuổi trẻ đến khi họ tìm đường sang Úc. Bản quyền hình ảnh Stuart Lutz/Gado Image caption Quân nhân Quân lực VNCH trong ảnh chụp năm 1968 Tác giả nhắc lại rằng Nam Việt Nam mất hơn người lính trong cuộc chiến, với số người bị thương khoảng hơn Một chương sách dành để nói về Đoàn Nữ Quân Nhân Quân lực VNCH, một đối tượng ít khi được nhắc tới. Vào lúc kết cuộc năm 1975, có khoảng phụ nữ phục vụ trong Đoàn Nữ Quân Nhân. Miền Nam sụp đổ là “vết sẹo” lớn nhất trong cuộc đời nhiều phụ nữ này. Một người phụ nữ kể về giai đoạn hậu chiến là “thời gian tuyệt vọng”. Bà chạy sang Campuchia mang theo con trai, ở đó suốt năm năm để có thể sang trại tị nạn ở Thái Lan rồi sang Úc năm 1990. Sau này, cũng người phụ nữ này quay về Việt Nam mỗi năm để giúp đỡ những thương phế binh VNCH. Con trai bà hỏi sao mẹ cứ về Việt Nam, và “hãy quên đi những kỷ niệm đau thương”. Nhưng bà nói “Nỗi đau mới làm mình biết nhớ.” Úc công nhận cựu binh VNCH Qua sách, người đọc biết thêm rằng từ 1980, Úc có chế độ công nhận cựu binh của các đồng minh qua việc cấp cho họ lương hưu. Chính sách ra đời từ nhu cầu đáp ứng cho các cựu binh thời Thế chiến Hai, nhưng cũng áp dụng cho các xung đột sau này như Chiến tranh Việt Nam. Bản quyền hình ảnh Getty Images Image caption Lính Úc tham chiến tại Nam Việt Nam từ 1965 Với nhiều cựu binh VNCH, việc nộp đơn xin chính phủ Úc công nhận là cựu binh đồng minh không chỉ để có tiền hưu, mà quan trọng hơn, để tự hào rằng họ được công nhận trong danh dự. Image caption Quân lực VNCH trong một lần hành quân – ảnh do ông Hoàng Cơ Lân ở Paris cung cấp Việc Úc công nhận cựu binh VNCH cũng giúp những người này có chỗ đứng trong lịch sử di dân và chiến tranh của Úc, giúp họ hòa nhập với cộng đồng cựu binh Úc. Một cựu binh chỉ ra rằng ngay tại Mỹ, không có mức độ công nhận cựu binh VNCH nhiều như tại Úc. Chính sách của Úc đã cho những người lính VNCH có được diễn đàn, tạo cho họ cơ hội đóng góp và tham gia những dịp Úc kỷ niệm cuộc chiến Việt Nam. Những nghiên cứu tiếng Anh nổi bật về Việt Nam Cộng Hòa gần đây chủ yếu tập trung vào chính thể Tổng thống Ngô Đình Diệm 1955-63. Một phần lý do là sự mở cửa ngày càng cởi mở của các kho tư liệu về giai đoạn này ở Việt Nam. Cuốn sách của bà Nathalie Huynh Chau Nguyen là một nỗ lực khác, và bà nói việc người ta cố “xóa sổ VNCH” khỏi cả lịch sử Việt Nam và ngành viết sử về chiến tranh đã là động lực cho nghiên cứu của bà. Nguồn
Đề bài I. ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu ngày chúng tôi đi các toa tàu mở toang cửa không có gì phải che giấu nữa những thằng lính trẻ măng tinh nghịch ló đầu qua cửa sổ những thằng lính trẻ măng quân phục xùng xình chen bám ở bậc toa như chồi như nụ con tàu nổi hiệu còi rung hết cỡ và dài muốn đứt hơi hệt tiếng gã con trai ồm ồm mới vỡ thế hệ chúng tôi hiệu còi ấy là một lời tuyên bố một thế hệ mỗi ngày đều đụng trận mà trách nhiệm nặng hơn nòng cối 82 vẫn thường vác trên vai một thế hệ thức nhiều hơn ngủ xoay trần đào công sự xoay trần trong ý nghĩ đi con đường người trước đã đi bằng rất nhiều lối mới Một người lính nói về thế hệ mình – Thanh Thảo, 123, NXB Hội Nhà văn, 2007, tr. 63 – 64 Câu 1 Trong văn bản trên, tác giả đã sử dụng thể thơ gì? Anh/chị dựa vào đâu để xác định như vậy? Câu 2 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính và nêu tên các biện pháp tu từ nổi bật trong văn bản. Câu 3 Đại từ “chúng tôi” trong đoạn thơ chỉ đối tượng nào? Ngoài đại từ này, đối tượng đó còn được gọi tên bằng một số cụm từ khác. Hãy chép ra các cụm từ ấy. Câu 4 “Thế hệ chúng tôi” được khắc họa trong văn bản có những đặc điểm gì nổi bật? Tác giả đã dựng chân dung của thế hệ mình với thái độ như thế nào? II. LÀM VĂN Câu 1 Theo những điều được gợi lên từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày nhận thức của anh/ chị về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước, dân tộc. Câu 2 Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu – Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, hai nhân vật Phùng và Đẩu từng có lúc thốt lên “Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được!”. Qua phân tích tình huống dẫn đến cảm giác ngạc nhiên, bối rối chứa đựng trong lời nói ấy của các nhân vật, anh/ chị hãy làm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm. Lời giải chi tiết I. ĐỌC HIỂU Câu 1 – Thể thơ tự do. – Căn cứ để xác định số chữ trong các câu không đều nhau; cách ngắt dòng phóng túng; vần gieo không theo mô hình cố định, thậm chí có chỗ bỏ qua vần… Câu 2 – Phương thức biểu đạt chính của văn bản biểu cảm hoặc trữ tình và tự sự. – Các biện pháp tu từ nổi bật ẩn dụ, so sánh. Câu 3 – Đối tượng được chỉ định bằng đại từ “chúng tôi” những người lính trẻ thời chống Mỹ cứu nước. – Một số cụm từ khác cùng chỉ về đối tượng “những thằng lính trẻ măng”, “thế hệ chúng tôi”, “một thế hệ mỗi ngày đều đụng trận”, “một thế hệ thức nhiều hơn ngủ”. Lưu ý Vế thứ nhất của câu hỏi giúp xác định mức độ hiểu biết của thí sinh về tác giả và bối cảnh được miêu tả trong văn bản. Vế thứ hai của câu hỏi kiểm tra một kỹ năng đọc thơ mang tính đặc thù nhận ra sự lặp lại với một số biến hóa của những từ/ hình ảnh then chốt, từ đó, xác định được hình tượng trung tâm và thông điệp chính của văn bản. Câu 4 – “Thế hệ chúng tôi” được khắc họa với những đặc điểm nổi bật cởi mở, tinh nghịch, trẻ trung “không có gì phải che giấu nữa, tinh nghịch ló đầu qua cửa sổ, chen bám ở bậc toa như chồi như nụ”; dám gánh vác trách nhiệm trước đất nước “hiệu còi ấy là một lời tuyên bố”; dày dạn, kiên trì trước những thử thách khốc liệt “mỗi ngày đều đụng trận, vác cối nặng, thức nhiều hơn ngủ, xoay trần đào công sự…”; đầy tinh thần sáng tạo trong hành trình cuộc sống “xoay trần trong ý nghĩ, đi… bằng rất nhiều lối mới…”. – Thái độ của tác giả khi dựng chân dung thế hệ mình tự tin, yêu quý, tự hào, không hề có một chút mặc cảm. Lưu ý Thí sinh không nhất thiết phải dùng đúng các từ định danh đặc điểm đối tượng miêu tả/ khắc họa và các từ khái quát về thái độ của nhà thơ giống như trong đáp án. Điều quan trọng là nhận ra được nội dung biểu đạt và sắc thái ý nghĩa riêng của những cụm từ/ hình ảnh nổi bật có trong văn bản được chọn in nghiêng ở trên. II. LÀM VĂN Câu 1 1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận – Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước, dân tộc. 2. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm – Thế hệ trẻ, với đặc điểm trẻ trung, cởi mở của mình, luôn là nét tươi sáng, tích cực của bức tranh cuộc sống. – Nói tới thế hệ trẻ là nói tới những hành trình đầy niềm hưng phấn, với tinh thần trách nhiệm rất cao. – Thế hệ trẻ cần dấn bước vào đời với quyết tâm lớn, với những hành động quyết liệt, vì mục đích đưa đất nước bước lên tầm cao mới, khẳng định được tư thế tồn tại đường hoàng của mình trước thế giới, nhân loại. – Thế hệ trẻ phải biết không ngừng khám phá, sáng tạo, “đi con đường người trước đã đi/ bằng rất nhiều lối mới”. Lưu ý Đây chỉ là một đoạn văn ngắn, không đòi hỏi quá khắt khe về bố cục, về hệ thống ý. Có thể dựa vào/ phỏng theo mạch cảm xúc/ suy nghĩ của tác giả văn bản trong phần Đọc hiểu để triển khai mạch viết riêng của mình như gợi ý ở trên. Thí sinh có thể hoàn thành đoạn văn theo kiểu lần lượt trả lời ngắn các câu hỏi Tại sao phải có trách nhiệm đối với đất nước, dân tộc? Trách nhiệm cụ thể của thế hệ trẻ hôm nay là gì? Thế hệ trẻ chúng ta đã làm gì, sẽ phải làm gì để thể hiện tinh thần trách nhiệm đó? 3. Chính tả, dùng từ, đặt câu đảm bảo chuẩn mực. Câu 2 1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận có đủ mở bài, thân bài, kết luận; nội dung phần nào phải phù hợp với tính chất quy ước chung của phần ấy. 2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận – Tình huống dẫn tới lời thốt lên của hai nhân vật “Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được!”. – Nội dung và ý nghĩa thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm. 3. Nêu được những thông tin khái quát về tác giả, tác phẩm – Tác giả Nguyễn Minh Châu – nhà văn tiêu biểu của nền văn học cách mạng, người góp phần đổi mới văn học sau 1975. – Tác phẩm viết năm 1983, báo hiệu sự chuyển mình của văn học Việt Nam sang thời kỳ mới. 4. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm – Một tình huống đầy nghịch lý, có nền là hoàn cảnh, sự việc nhiều éo le + Cảnh bạo lực giữa khung cảnh thơ mộng. + Phản ứng lạ lùng của những người liên đới. + Cách giải quyết sự việc và kết cục bất ngờ. – “Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được!” là câu nói mà hai nhân vật Phùng và Đẩu thốt lên tại tòa án huyện, khi họ hỏi chất vấn người đàn bà làng chài và lắng nghe những gì chị ta trần tình, giãi bày. Câu nói bộc lộ đỉnh cao của sự ngạc nhiên, sau tất cả những gì mà họ nhất là Phùng đã chứng kiến và tham dự, không chỉ tại tòa án mà còn tại bãi biển trong mấy buổi sớm. Họ ngạc nhiên vì thấy mọi việc không diễn ra theo logic bình thường. – Thông điệp nhận thức về bản chất phức tạp của cuộc đời mọi thứ không phải diễn ra như điều ta tưởng tượng, mong ước và suy đoán; tâm lý con người nhất là người lao động nghèo khổ diễn ra rất khác so với hình dung của những kẻ hời hợt hoặc thiếu thực tế. Bạo lực không chỉ có nguyên nhân từ những gì thuộc về bản tính con người mà còn từ sự khốn quẫn trong đời sống. Trong con người cam chịu vẫn có sự cứng cỏi và sự vị tha. Không phải cứ cách mạng về là hết khổ. Những hành động thiện chí không phải bao giờ cũng được đón nhận theo chiều hướng tích cực… Nói chung, nghịch lý luôn chứa đựng trong các sự kiện đời sống, trong mọi hành xử của con người. – Thông điệp nhận thức về độ chênh giữa nghệ thuật và cuộc sống nghệ thuật hời hợt thường chỉ thấy được bề nổi của sự vật, thường tự thỏa mãn với những cái nhìn thấy “từ xa”, thường chỉ dung nạp những gì thuần nhất, lý tưởng. Nhân vật Phùng đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác trong quá trình truy tìm cái đẹp, xây dựng ý tưởng sáng tạo. Những điều diễn ra đã giúp anh nhìn sâu hơn về bản chất và trách nhiệm của nghệ thuật chân chính, nghệ thuật vì con người. – Đánh giá Thông điệp mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm được rút ra từ chiêm nghiệm của một cây bút giàu trách nhiệm với cuộc đời, với nghệ thuật, luôn trăn trở với việc đổi mới văn học. Thông điệp đó, ngoài việc thể hiện rõ định hướng sáng tác của tác giả Chiếc thuyền ngoài xa trong giai đoạn mới, còn góp phần tích cực tạo nên bước chuyển của cả nền văn học Việt Nam sau 1975. Lưu ý Có khả năng nhiều thí sinh sẽ bê nguyên bài giảng về truyện Chiếc thuyền ngoài xa vào làm thành nội dung bài viết. Dĩ nhiên, với kiểu làm bài này, thí sinh sẽ có những “ý” chạm được/ đáp ứng được yêu cầu của đề, nhưng như thế là chưa nhìn thấy đòi hỏi tinh tế chứa đựng trong đề. Đặc biệt, thông điệp của nhà văn ở đây có một nội dung rất cụ thể, không chung chung để có thể ghép vào sáng tác của ai và vào thời kỳ nào cũng được. Không nên quá nhấn mạnh vào những khái niệm khá mơ hồ và mòn sáo như yêu thương, vị tha, thiên chức, cái đẹp… Nên tập trung suy nghĩ xoay quanh những từ có ý nghĩa theo chốt là phức tạp của cuộc đời và độ chênh giữa nghệ thuật và hiện thực. Đây mới chính là điểm làm nên giá trị của Chiếc thuyền ngoài xa, dù về nghệ thuật, truyện ngắn này chưa phải đã hoàn hảo. Việc trình bày về nội dung thông điệp gắn tất yếu với việc phân tích ý nghĩa của thông điệp; không nhất thiết phải tách bạch hai phần viết với nhau. Phân tích ý nghĩa đúng chứng tỏ trước đó đã hiểu đúng nội dung dù việc trình bày về nội dung này có thể chưa được tường minh. Đặc biệt, để phân tích được ý nghĩa thông điệp, phải lưu tâm đầy đủ đến bối cảnh sáng tác truyện ngắn này các nhà văn phải đập vỡ thói quen/ quán tính nhận thức và sáng tác để thực hiện cuộc đổi mới văn học theo đòi hỏi của cuộc sống thời điểm đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Những bài viết nào có ý so sánh sáng tác của hai thời kỳ văn học khác nhau nên cho điểm khích lệ. Việc quá quan tâm phân tích tính cách, phẩm chất nhân vật có thể đẩy bài viết đi chệch mục tiêu chính. Những đánh giá về nghệ thuật của tác phẩm chỉ nên được giới hạn ở phạm vi sự lựa chọn các chi tiết làm nổi bật tính oái oăm của tình huống, với những kiểu phản ứng tâm lý, hành động đa dạng, ngược chiều nhau của các nhân vật ở từng phía… 5. Sáng tạo sáng tạo trong cách diễn đạt, lập luận; nêu được những ý tưởng độc đáo 6. Chính tả, dùng từ, đặt câu đảm bảo chuẩn mực. Xem thêm Đề và Lời giải chi tiết Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn mới nhất tại Đọc hiểu Một người lính nói về thế hệ mình 05/15/2022 627 vote Tuyển tập Bộ đề Đọc hiểu Một người lính nói về thế hệ mình hay nhất. Tổng hợp, sưu tầm các đề Đọc hiểu Một người lính nói về thế hệ mình giúp các em ôn … Đề thi thử THPT Quốc gia năm 2021 môn Ngữ văn có đáp án – Trường THPT Dầu Tiếng 03/26/2022 321 vote đi con đường người trước đã đi bằng rất nhiều lối mới Một người lính nói về thế hệ mình – Thanh Thảo, NXB Hội Nhà văn, 2007, tr. 63 – 64 Đề thi thử THPT Quốc gia năm 2021 môn Ngữ văn có đáp án – Trường THPT Dầu Tiếng 05/09/2022 296 vote … xoay trần trong ý nghĩ đi con đường người trước đã đi bằng rất nhiều lối mới Một người lính nói về thế hệ mình – Thanh Thảo, NXB Hội Nhà văn, 2007, tr. Đề thi thử THPT Quốc gia 2018 môn Ngữ Văn trường THPT chuyên Đại học Vinh, Nghệ An Đề minh họa THPT Quốc gia 2018 môn Văn 09/09/2022 316 vote đi con đường người trước đã đi. bằng rất nhiều lối mới. Một người lính nói về thế hệ mình – Thanh Thảo, 123, NXB Hội Nhà văn, 2007, tr. 63 – 64. “Thế hệ chúng tôi” được khắc họa với những đặc điểm nổi bật cởi mở, tinh nghịch, trẻ trung không có gì phải che giấu nữa, tinh nghịch ló đầu qua cửa sổ, chen bám ở bậc toa như chồi như nụ; dám gánh vác trách nhiệm trước đất nước hiệu còi ấy là … Bộ 4 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 trường THPT Đình Lập 02/25/2023 585 vote Một người lính nói về thế hệ mình – Thanh Thảo, 123, NXB Hội Nhà văn, 2007, tr. 63 – 64. Câu 1. Trong văn bản trên, tác giả đã sử dụng thể … Câu 2. Phân tích tác dụng của phép điệp trong đoạn văn sau Tại sao những khoảnh khắc kỳ diệu mà chúng ta từng có và đang có lại không thể kéo dài mãi mãi và phủ ngập trên đời sống thế gian này như những tia nắng mặt trời? Tại sao chúng ta lại biến … Bài tập đề đọc hiêu số 4 văn 11 có lời giải 07/13/2022 397 vote Một người lính nói về thế hệ mình – Thanh Thảo, 123, NXB Hội Nhà văn, … ai ai cũng nói tới việc chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, thiên niên kỉ mới.
"Chiến trường ngày cũ rưng rưng/ Một thời trai trẻ đã từng dọc ngang/ Mùa chinh chiến ấy - hóa vàng/ Quê chung thắp một nén nhang quê người". Đó là những câu thơ mà những người lính Sư đoàn 307 chúng tôi đã đọc tại đền thờ Angkor Wat vào năm ngoái - nhằm tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh vì nghĩa tập sách "Mùa chinh chiến ấy" NXB Trẻ ấn hành của nhà biên kịch, nhà văn Đoàn Tuấn đã "hóa vàng" tại chiến trường xưa, năm nay, lại vừa tái bản. Điều này, thú thật khiến tôi ngạc nhiên, vì nghĩ rằng sách viết về năm tháng ấy, đã hơn 30 năm rồi còn gì, liệu chừng còn mấy ai quan tâm? Không ngờ, vẫn còn đó người tìm đọc và cũng có thể họ tò mò tìm về ngày tháng đất nước vừa hòa bình vừa chiến tranh đã có một thế hệ nhập ngũ đổ máu ở chiến trường Tây Nam của Tổ đọc bản thảo này, từ những dòng đầu tiên cho đến cả ngót 500 trang in, tôi bàng hoàng nhận ra rằng đây là một trong những tập bút ký xuất sắc nhất và có vị trí quan trọng trong các tác phẩm viết về quân tình nguyện Việt Nam. Để có được những trang viết ngồn ngộn chất liệu của máu, nước mắt lẫn niềm vui, nỗi buồn trải dài trong quá khứ, không chỉ lật lại nhật ký thuở đôi mươi, Đoàn Tuấn còn lặn lội từ Nam chí Bắc gặp gỡ đồng đội cũ. Sau khi đã thu thập tương đối đầy đủ tài liệu, anh bắt đầu viết. Viết chừng nửa tập sách, đọc lại cảm thấy nhẹ hều, so với những gì đã trải qua, anh nghiến răng xóa sạch. Và lại viết. Anh tâm tình "Khó nhất vẫn là tìm cách thể hiện, phải thật khách quan, dù rằng anh em mình là người trong cuộc".Tác giả Đoàn Tuấn và cuốn sách "Mùa chinh chiến ấy" vừa được tái bản. Ảnh do nhà văn cung cấpTôi rất hiểu tính cẩn trọng của bạn. Thời còn ở chiến trường, trong túi áo của anh bao giờ cũng có quyển sổ tay và cây bút BIC. Hễ gặp một điều gì cần thiết, anh lại hí hoáy ghi chép, sợ quên. Nhờ vậy, khi bắt tay vào viết những tập sách về năm tháng của thế hệ mình, anh đã có được lợi thế về chất liệu so với người cùng khi rời quân ngũ từ thập niên 1980, anh đã đau đáu suy tư "Trong lòng tôi luôn suy nghĩ một điều là những người lính đồng đội tôi hình như đã linh cảm thấy mình sẽ chết. Nhưng họ hoàn toàn không ý thức được điều này. Định mệnh, số phận và cái chết cuốn họ đi. Chỉ khi họ chết rồi, xâu chuỗi lại những lời nói và hành động của họ, tôi mới nhận ra được những điều họ linh cảm". Vì vậy, Tuấn đã viết lại điều đó. Cuốn sách chỉ dày chừng 150 trang in nhưng phải có độ lùi gần 20 năm, Đoàn Tuấn mới viết nay, với "Mùa chinh chiến ấy", như sự "phân công" vô hình nào đó, Đoàn Tuấn lại là người chịu trách nhiệm phải ghi lại năm tháng đồng đội đã trải qua. Hoàn toàn không phải "đồng bóng" duy tâm gì cả, phải sau khi viết xong, anh thành tâm thắp một nén nhang lên bàn thờ; lúc ấy, anh mới thấy lòng mình thật sự nhẹ nhàng, thanh thản. Khi phát hành, ngay lập tức, quyển sách đã tạo nên cơn sóng dữ dội trong lòng cựu chiến binh Sư đoàn 307 lẫn bạn đọc hôm ai, không một điều gì có thể lãng quên. Làm sao có thể quên, Tuấn nhớ lại lúc anh Lâm giẫm mìn tại vùng Đông Bắc Campuchia "Đêm xuống, ngoài trời An Lung-viêng tối đen như mực. Mưa rả rích. Càng lúc anh càng kêu to. Đến lúc kiệt sức, Lâm không thể kêu được nữa. Khoảng 4 giờ sáng, anh trút hơi thở cuối cùng. Tôi làm công việc kiểm nghiệm quân tư trang tử sĩ. Tấm ảnh người vợ, anh vẫn để trong ví. Tôi lấy ra. Ngắm nhìn lại gương mặt người thiếu phụ xinh đẹp. Tôi lật đằng sau, thấy dòng chữ con gái "Những lúc buồn anh hãy nhớ đến em. Ký tên Liên". Nét chữ thật phóng khoáng. Tôi vẫn bị ám ảnh gương mặt dịu hiền của người con gái ấy. Tóc thề xõa ngang vai. Đêm nay, ở quê nhà, chị có mơ thấy anh Lâm về không?". Những chi tiết dung dị như vốn có trong đời thường, "Mùa chinh chiến ấy", đã ghi nhận qua sự chắt lọc của một cây bút đã từng sống tại chiến trường hơn 5 năm, liên tục tác chiến và công tác dân vận lẫn truyền tin, Đoàn Tuấn có nhiều cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc với người dân, nhờ vậy, "Mùa chinh chiến ấy" còn là những trang bút ký về sinh hoạt của người dân bản xứ với nhiều chi tiết chân thật và độc đáo. Có thể nói, từ góc nhìn của người lính, lần đầu tiên Đoàn Tuấn đã phản ánh tương đối đầy đủ nhất về năm tháng nghĩa vụ quốc tế với sự tự nhủ đã khắc sâu tâm khảm "Giúp bạn là tự mình giúp mình". Chắc chắn "Mùa chinh chiến ấy" có vị trí đặc biệt trong số các tác phẩm viết về chiến trường Tây Nam mà nay chỉ mới đếm trên đầu ngón tay với Văn Lê, Sương Nguyệt Minh, Phạm Sỹ Sáu, Nguyễn Quốc Trung, Nguyễn Thành Nhân, Bùi Thanh Minh, Huỳnh Kim, Lê Minh Quốc…Và xin kể thêm, lúc "hóa vàng" "Mùa chinh chiến ấy" tại chiến trường xưa, chúng tôi đã nói với nhau về ngày tháng ở quân trường - ngày chỉ mới đôi mươi đã làm quen với vũ khí, điều lệnh quân ngũ để bổ sung vào mặt trận. Vậy, thế hệ ấy có gì khác thế hệ ngày nay? Âu cũng là một gợi ý cần thiết để Đoàn Tuấn lại viết. Đã viết xong. Bản thảo "Một trăm ngày trước tuổi hai mươi" đang nằm trên bàn biên tập của một nhà xuất văn Huỳnh Trọng Khang - trẻ hơn so với chúng tôi khi đọc trước bản thảo đã nhận xét "Mỏng hơn nhiều so với "Mùa chinh chiến ấy" nhưng không vì thế mà "Một trăm ngày trước tuổi hai mươi" thiếu đi sức nặng, thiếu vắng sự ngồn ngộn của hiện thực. Tập sách này được viết ra, trình bày như thể nó là những ghi chép, rất gần với nhật ký, quyển nhật ký đếm ngược tới "ngày D" - trước ngày hai mươi tuổi. Cái tuổi hai mươi đầy hoa mộng mở ra, hành trình một trăm ngày sát cánh cùng đồng đội trong những giờ phút bắt đầu một cuộc chiến. Nhân vật bước đi, tuổi xuân mở lối, nhưng đồng thời chiến tranh tàn khốc".Nhắc chi tiết này, tôi muốn xác tín rằng không ai khác, chính Đoàn Tuấn - nhà biên kịch, nhà văn, cựu binh Sư đoàn 307, đã đảm nhận nhiều nhất về vai trò kể chuyện đời lính của thế hệ mình cho mai sau. Việc làm này, há chẳng phải vai trò của nhà văn là ghi chép lại năm tháng đã sống và đang sống đó sao?
Kỷ niệm 65 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, 1957-2022 Vanvn- Nhớ buổi sáng ngày cách đây vừa tròn 1 năm, tôi cùng em Liên-cháu ruột nhà văn Nguyễn Chí Trung, và cháu Mai Anh – trợ lý cho nhà văn Nguyễn Chí Trung những năm cuối đời của ông, đi grab ra Nghĩa trang TPHCM ở Thủ Đức viếng mộ ba người mà tôi và các cháu đều yêu quí. Đó là nhà văn Nguyễn Chí Trung, người anh tinh thần và là người thủ trưởng cũ của tôi ở Trại sáng tác Văn học quân khu Năm, nhà thơ Thu Bồn, vừa là anh vừa là bạn thân thiết của tôi cũng ở Trại đó, và cuối cùng, là ông Bảy Dự tên thật là Nguyễn Võ Danh, một thủ trưởng cũ của tôi ở Ban Binh vận TW Cục. Ông Bảy Dự hồi đó là phó ban thường trực Ban Binh vận TW Cục, và là một “trùm tình bảo” Việt Cộng. Họ là 3 Việt Cộng thứ thiệt, 3 Việt Cộng thứ dữ luôn, và đều là những người đã vào sinh ra tử trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tôi yêu họ, như yêu những người thân thiết của mình, và tôi luôn lấy họ làm tấm gương để noi theo trong suốt cuộc đời mình. Nhà thơ Thanh Thảo Với tôi, ông Nguyễn Chí Trung là một tấm gương sáng chói của lòng yêu nước, yêu nhân dân, dám hy sinh vì Tổ quốc, và tuyệt đối trong sạch suốt cuộc đời mình. Chỉ như thế, ông Trung đã là người anh hùng trong lòng tôi. Với nhà thơ Thu Bồn, thì cứ nhắc đến anh, lại vừa mắc cười vừa muốn khóc. Vì anh là một người lính-nhà thơ toàn tòng, một người dám sống bằng lòng tốt, bằng ý chí quyết sống, bằng tình nhân ái và bằng cả bản năng tuyệt vời của một người đàn ông chính trực biết yêu phụ nữ hết mình. Biết yêu phụ nữ hết mình, chẳng phải là một phẩm chất mà bất cứ người đàn ông nào cũng ngưỡng mộ, bất cứ người phụ nữ nào cũng rất dễ xiêu lòng đó sao? Còn với ông Bảy Dự – một thủ trưởng cấp cao của tôi hồi đánh Mỹ, thì tầm nhìn của ông, cách sống giản dị hơi ẩn mình của ông, những chiến tích ông đã làm trong lặng lẽ và rất ít người biết, đã đưa ông thành một idol mà tôi ngưỡng mộ, dù chưa hề thân thiết với ông. Nhưng ông Bảy Dự rất biết người, và ông quí tôi, điều ấy tôi biết. Ông quí nhưng không nói ra, chỉ thể hiện qua những cách ứng xử vào những lúc tôi gặp khó khăn nhất. Đó là khi bài thơ “Một người lính nói về thế hệ mình” của tôi vào năm 1974 đã bị đánh tả tơi, lên bờ xuống ruộng. May mà lúc ấy tôi đang sống và làm công việc một nhà báo ở Ban Binh vận, chứ nếu tôi ở Ban Văn nghệ TWC, chắc tôi khó sống lắm. Ông Bảy Dự đã mời tôi lên ngôi nhà lợp lá trung quân nhỏ bé của ông ở giữa rừng, và đã trao đổi chân tình với tôi về… thơ tôi. Đó là điều khiến tôi hết sức ngạc nhiên. Tôi biết, ông Bảy Dự là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, chính trị chuyên nghiệp, nhưng không chuyên về thơ, và chúng tôi đã nói chuyện với nhau vừa thẳng thắn vừa chân tình. Tôi không nhận bất cứ “khuyết điểm” nào trong bản thảo tập thơ đầu tay “ Dấu chân qua trảng cỏ” của mình, nhưng tôi cảm ơn ông Bảy Dự vì tình cảm chân thành của ông đối với một người lính trẻ, một nhà thơ trẻ còn chưa được mấy ai biết tới như tôi. Khi về Sài Gòn sau ngày có lần tôi gặp một anh lái xe lam là người Bắc di cư bên chợ Cũ, được ngồi uống bia với anh, được anh kể mình có họ hàng với chị Phan Thị Quyên – vợ anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi. Chợt tôi cảm thấy như được gặp tất cả những bà con người Bắc đã di cư vào Nam năm 1954, được lắng nghe những tâm tình của họ, đồng cảm với nỗi nhớ thương của họ về quê hương miền Bắc, nơi họ đã ra đi từ 21 năm trước. Có dân tộc nào như dân tộc chúng ta, đã bao lần chia ly rồi đoàn tụ, đã trải qua bao “cuộc bể dâu” mà lòng khôn nguôi nhớ về quê cha đất tổ. Một dân tộc như thế không thể không Thống Nhất, không thể không được sống trong Hòa Bình. Có thể ở một nơi nào trên trái đất, có dân tộc phải chia ly hơn 60 năm và hơn thế, nhưng ở Việt Nam thì không. Chia ly 21 năm với dân tộc chúng ta đã là quá dài. Không một ai mong cảnh chia ly đau lòng ấy. Nếu chúng ta hiểu ngày là ngày hiện thực hóa khát vọng thống nhất của một dân tộc, thì chúng ta sẽ dịu lòng hơn với bao trắc trở ở phía trước. Nhưng con đường dân tộc Việt Nam đã đi, đang đi và sẽ đi vẫn là con đường của thống nhất và hòa hợp dân tộc. Và tôi nhớ, cái lần trong rừng được trò chuyện thân mật với ông Bảy Dự, ông Bảy đã có một phút trầm ngâm khi nói với tôi “ Dù phải chờ đợi tới mấy thế hệ để thấy dân tộc chúng ta thực sự hòa hợp, chúng ta vẫn kiên nhẫn chờ.” Những năm ấy, tôi là phóng viên chiến trường thuộc ban Binh vận TW Cục, và chuyên viết về đề tài hòa giải, hòa hợp dân tộc cho hai Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài phát thanh Giải phóng. Tôi nghe lời tâm tình của ông Bảy Dự, và tôi hiểu con đường đi tới thực sự hòa hợp dân tộc còn xa xôi và vô vàn khó khăn, nhưng chúng ta chọn con đường ấy, và chung thủy đi trên con đường ấy. Những ngày tháng Tư của bất cứ năm nào sau năm 1975 đều khiến tôi có những phút bồi hồi khi nhớ lại. Nhiều lúc có cảm giác mình như một dề lục bình trôi trên sông Vàm Cỏ Đông, một dề lục bình bé nhỏ nhưng luôn biết anh em của mình, những ai thân thiết với mình, và những thanh thản khi mình trôi chảy cùng dòng sông. Chưa kể, lục bình lại vừa trôi vừa nở hoa, như tôi từng làm thơ trên Trường Sơn hay qua Đồng Tháp Mười. Mùa Thống Nhất luôn là mùa xúc cảm nhất đối với tôi, một người đã phải xa cha mẹ để vượt Trường Sơn, và sống 5 năm ở chiến trường Nam Bộ. Biết bao là kỷ niệm với bạn bè, đồng đội. Có một người bạn thân của tôi ở chiến khu miền Đông, sau giải phóng anh và gia đình vượt biên sang định cư tại Australia. Nhưng không bao giờ anh quên bạn bè ở quê nhà, quên những tháng năm chúng tôi đã đồng cam cộng khổ với nhau. Mới đây, bạn tôi gọi điện về cho tôi, và nói “ Những năm anh em mình ở Rừng miền Đông là những năm đẹp nhất trong cuộc đời mình.” Tôi đã khóc khi nghe anh nói vậy. Đúng đó là những năm tuổi thanh xuân đẹp nhất của chúng tôi, “Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn” thơ Chế Lan Viên đi chăng nữa. Chúng tôi đã sống đã dâng hiến và đã chịu đựng cùng với nhân dân với đất nước mình. Mùa Thống Nhất với chúng tôi là khát vọng cao nhất trong những năm tháng chiến tranh. Nhớ những ngày tháng tư năm 2021, tình cờ tôi đọc được bài viết như muối xát của một người trẻ gốc Việt sinh năm 1982 đang sống và làm việc tại Mỹ. Anh kể về cái cảm giác không thể chịu nổi khi bị một người đàn bà da trắng xa lạ đột nhiên chửi thẳng và nhổ thẳng vào mặt mình ngay tại một phi trường ở Mỹ vào tháng Cơ sự chỉ vì anh là người gốc Á, một người gốc Việt sinh ra tại Mỹ và bao năm qua đã chăm chỉ làm việc hết mình vì nước Mỹ, nơi anh nghĩ “giấc mơ Mỹ” của mình đang thành hiện thực. “Nhưng tôi đã sai khi nghĩ vậy.” Cơ sự, cũng chỉ vì anh là một thanh niên gốc Việt, dù đầy tâm huyết và không thiếu tài năng. Tôi đã lặng người rất lâu khi nghĩ tới những người đồng bào của mình, những người không chỉ lớn lên trong chiến tranh, mà còn được sinh ra trong hòa bình, lớn lên trong hòa bình, dù ở một đất nước cách xa Việt Nam tới nửa vòng trái đất. Nguồn gốc dân tộc là điều không một ai có thể phủ nhận. Nhưng người Việt Nam, dù ở bất cứ đâu, làm những công việc lao động lương thiện nhỏ nhoi nào, cũng là những người không dễ cho bất cứ ai có thể bắt nạt mình, kỳ thị mình. Người Việt luôn hiếu hòa, thậm chí luôn biết chịu đựng, luôn “chín bỏ làm mười” trong nhiều mối quan hệ với người ngoài, nhưng chảy sâu trong huyết quản của họ là dòng máu Việt của Trần Hưng Đạo, của Nguyễn Trãi, của Quang Trung Nguyễn Huệ. Họ bất khuất một cách tự nhiên, và hiếu hòa một cách còn tự nhiên hơn. Có những điều do lịch sử để lại mà chúng ta luôn phải biết gìn giữ. Nhưng cũng có những điều mà chúng ta cần phải thay đổi, nhất là những điều người Việt cần thay đổi khi nhìn nhận về nhau. Vào ngày ngay tại dinh Độc Lập, tướng Việt Cộng Trần Văn Trà-một người đồng hương lẫm liệt của tôi-đã nói với tướng Dương Văn Minh khi ông đang là và sắp không còn là Tổng thống Việt Nam Cộng hòa “Người Việt Nam chúng ta không ai thắng ai thua trong cuộc chiến tranh này. Kẻ thua là Mỹ, và dân tộc chúng ta là một dân tộc phải được sống trong hòa bình và hòa hợp dân tộc.” Bây giờ thì những người Mỹ tử tế đã là bạn của Việt Nam chúng ta, dù cuộc làm bạn này có chậm tới đâu và đau đớn tới đâu. Nhưng đã là bạn tốt. Và hy vọng là một tình bạn chân thành. Vậy thì con đường đi tới hòa hợp và hòa giải dân tộc của người Việt phải là con đường tất yếu của cả dân tộc Việt Nam, không thể khác. THANH THẢO Báo Văn Nghệ Xem thêm Họa sĩ – nhà thơ Lê Tiến Vượng, lãng tử hồn quê Hội Nhà văn Việt Nam triển khai công tác văn học 2023 và kết nạp hội viên mới Ngước nhìn “Đất nước” của Trần Vàng Sao Giang ơi! Về thôi em – Tản văn dự thi của Phạm Văn Tấn Nỗi buồn Bảo Ninh – Kỳ 1
Bạn đang tìm hiểu về Đọc Hiểu Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình, hôm nay mình sẽ chia sẻ đến bạn nội dung Top 18+ Đọc Hiểu Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình được team mình tổng hợp và biên tập từ nhiều nguồn trên internet. Hy vòng bài viết về chủ đề Đọc Hiểu Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình hữu ích với bạn. Xem ngay đề thi tốt nghiệp THPT năm học 2020 – 2021 môn Văn số 7 dựa theo chuẩn cấu trúc đề thi minh họa của Bộ GD&ĐT từng ra. Cùng Đọc tài liệu tham khảo đề thi thử THPT quốc gia 2021 và đối chiếu với đáp án phía dưới bạn nhé. Đề thi thử THPT quốc gia 2021 môn Văn số 7 I. ĐỌC HIỂU 3,0 điểm Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu sau Warren Buffet từng nói “Không bao giờ có ai giống bạn.” Một ý tưởng rất thâm thúy. Một con người khôn ngoan. Không bao giờ có ai giống như tôi. Và không bao giờ có ai giống như bạn. Sẽ có người cố gắng bắt chước cách bạn suy tư, nói năng, hành động. Nhưng dù cố gắng hết sức họ cũng chỉ đứng hàng thứ hai mà thôi. Vì bạn là duy nhật. Một bản thể duy nhất tồn tại hôm nay. Giữa hàng tỷ người khác. Hãy dừng lại và suy nghĩ về điều này. Bạn chợt nhận ra rằng mình đặc biệt. Và không thể có ai tranh giành được. Thế thì hôm nay, bạn làm gì khi bước vào thế giới cần những con người thể hiện vượt trội trong cuộc sống từ trước đến giờ? Bạn đã bộc lộ hết mọi khả năng tiềm ẩn chưa? Bạn có là chính mình? Hãy tự hỏi. Bởi vì không còn lúc nào thể hiện chính mình tốt hơn lúc này. Và nếu không phải bây giờ thi khi nào? Tôi nhớ đến lời của triết gia Herodotus “Thà chấp nhận rủi ro phải gánh chịu một nửa những chuyện xấu mà ta từng dự đoán trước, còn hơn giữ mãi sự vô danh hèn nhát vì sợ những điều có thể xảy ra.” Một lời nói tuyệt đẹp. Trích “Hãy là chính mình” – Robin Sharma Thực hiện các yêu cầu sau Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì? Câu 2. Anh/chị hiểu câu nói “Không bao giờ có ai giống bạn” thế nào? Câu 3. Nêu hiệu quả của hàng loạt các câu hỏi tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn trích. Câu 4. Câu nói “Thà chấp nhận rủi ro phải gánh chịu một nửa những chuyện xấu mà ta từng dự đoán trước, còn hơn giữ mãi sự vô danh hèn nhát vì sợ những điều có thể xảy ra” gợi cho anh chị suy nghĩ gì? II. LÀM VĂN điểm Câu 1. điểm Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ về việc ý thức là chính mình của giới trẻ hiện nay. Câu 2. 5,0 điểm Trong bài thơ “Tây Tiến”, nhà thơ Quang Dũng miêu tả về hình ảnh người lính Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Và Tây Tiểu đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Cảm nhận của anh chị về hai đoạn thơ trên, từ đó làm sáng tỏ nhận xét “Tây Tiến phảng phất nét buồn, nét đau thương, nhưng buồn đau mà không bi lụy, ngược lại rất bi tráng” – Trần Lê Văn. Hết Đáp án đề thi thử tốt nghiệp môn Văn 2021 – đề số 7 I. ĐỌC HIỂU Câu 1 – Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích Nghị luận. Câu 2. – Câu nói “Không bao giờ có ai giống bạn” được hiểu + Bản thân chúng ta là một bản thể độc lập và duy nhất, không ai có thể giống như mình, hay bắt chước để giống như mình từ suy nghĩ đến hành động, cách nói năng hay ngoại hình… + Qua đó, tác giả muốn chúng ta phải biết trân trọng bản thân. Câu 3. – Các câu hỏi tu từ Bạn làm gì khi bước vào thế giới cần những người thể hiện vượt trội trong cuộc sống từ trước đến giờ? Bạn đã bộc lộ hết mọi khả năng tiềm ẩn chưa? Bạn đã tiết lộ con người chân thật của mình chưa? Bạn có là chính mình? + Hiệu quả của hàng loạt các câu hỏi tu từ được tác giả sử dụng nhằm tạo giọng điệu suy tư, trăn trở về việc chúng ta sống còn giấu mình, chưa bộc lộ, chưa phát huy hết khả năng sẵn có trong con người thực sự của chính mình. + Thông qua đó, tác giả nhắc nhở chúng ta, đặc biệt là giới trẻ sống phải biết phát huy năng lực, cống hiến hết mình, thể hiện bản thân sao cho xứng đáng. Câu 4. Câu nói “Thà chấp nhận rủi ro phải gánh chịu một nữa những chuyện xấu mà ta từng dự đoán trước, còn hơn giữ mãi sự vô danh hèn nhát vì sợ những điều có thể xảy ra”, gợi suy nghĩ – Khi ta xác định “sống là chính mình” hoặc thay đổi cuộc sống, công việc, mục tiêu hiện tại thì sẽ có những khó khăn, những trở ngại vì phải thích nghi với những điều mới, làm quen với những điều mà ta chưa từng trải qua. Nhưng + “Thà chấp nhận rủi ro phải gánh chịu một nửa những chuyện xấu mà ta từng dự đoán trước”; có nghĩa là chúng ta chấp nhận những khó khăn, những rủi ro thất bại, những vấp ngã để cho ta kinh nghiệm, để giúp ta trưởng thành còn hơn là đứng yên một chỗ không chịu thay đổi. Những rủi ro, những chuyện xấu mà ta gánh chịu có thể là một nửa hoặc thậm chí thất bại hoàn toàn, thì ít nhất cũng cho ta những bài học, Điều đáng quý hơn cả là ta dám chấp nhận rủi ro mà hành động. + “Giữ mãi sự vô danh hèn nhát vì sợ những điều có thể xảy ra”; “những điều có thể xảy ra” ở đây chính là rủi ro, những khó khăn thất bại, những trở ngại, “Giữ mãi sự tố danh hèn nhát” là chúng ta không dám thay đổi, không dám vượt qua mặc cảm của bản thân, không dám sống là chính mình, không tự tin phát huy khả năng tiềm ẩn, không dám tiết lộ con người chân thật của mình. II. LÀM VĂN Câu 1. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ về việc ý thức là chính mình của giới trẻ hiện nay. Mở đoạn Khi con người hiểu rõ về bản thân mình, sẽ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định thành công có đến với họ hay không. Điều đó như đánh thức suy nghĩ là chính mình trong chúng ta, đặc biệt là giới trẻ ngày nay. Thân đoạn 1. Là gì? Giải thích vấn đề “Chính mình” là gì? + “Chính mình” là sống đúng với tính cách, con người, suy nghĩ, sở thích của mình; Sống thật với những gì tự nhiên vốn có, không gò ép, không áp đặt, không sống để làm vui lòng hay chiều theo ý của người khác. + “Ý thức là chính mình” nghĩa là bản thân mình phải hiểu, phải xác định được những gì mình cần, những gì mình thích, những gì mình mong muốn trong cuộc sống. Nếu bạn mạnh mẽ hãy cứ dũng cảm khoác lên mình những bộ đồ cá tính, đừng vì “không phù hợp” mà tỏ ra dịu dàng. Nếu bạn thích trường Đại học Ngoại thương hãy cứ mạnh dạn đăng ký và quyết tâm để đạt được mục tiêu, đừng vì lời gièm pha của bạn bè mà từ bỏ. 2. Tại sao cần “ý thức là chính mình”? + Bởi xã hội ngày càng phức tạp, để sống là chính mình không phải chuyện dễ dàng. Chúng ta thường bị đầu hàng trước những nỗi sợ hãi, bị mê hoặc bởi những cám dỗ hay thiếu bản lĩnh, không có quan điểm rõ ràng, thích chạy theo số đông, không muốn làm mất lòng người khác… + Nếu không được sống là chính mình thì chúng ta sẽ chỉ biết sống một cách gượng ép, hôm nay giống người này, ngày mai giống người kia, hôm nay theo ý người này, ngày mai theo ý người khác… Như vậy, ta sẽ mãi không tìm được lối đi riêng. + Đến lúc tuổi trẻ qua đi, hoặc đã quá mệt mỏi khi phải gồng mình lên sống theo ý người khác, chúng ta sẽ thấy mệt mỏi, chán nản và thất vọng, và chắc chắn sẽ phải – sống trong sự tiếc nuối vì đã không sống là chính mình. 3. Làm thế nào để “ý thức là chính mình”? + Chúng ta phải xây dựng, học tập, rèn luyện cho mình một cái tâm vững vàng, một trí tuệ sắc sảo, một nền kiến thức vững vàng, tự hình thành cho mình những kỹ năng sống, những quan điểm sống rõ ràng. + Không chạy theo số đông, không mù quáng tin tưởng, không sống theo ý người khác, cũng không nên ích kỉ chỉ vì bản thân. + Phải xác định rõ bản thân cần gì, mong muốn gì, mục tiêu trong cuộc sống là gì để cố gắng theo đuổi, ra sức học tập để đạt được. 4. Dẫn chứng chứng minh Hoa hậu hoàn vũ H’Hen Niê. Đăng quang ngôi vị cao nhất cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam nhưng không được công chúng đón nhận. Tuy nhiên cô gái người Ê-đê mạnh mẽ vẫn luôn tự ý thức được bản thân, ý thức được nhan sắc của mình có thể đáp ứng đầy đủ tiêu chí của cuộc thi “Hoa hậu Hoàn vũ thế giới” mà H’Hen đã không quản ngày đêm rèn luyện kỹ năng, trau dồi kiến thức để mang chuông đi đánh xứ người. Kết quả chung cuộc, H’Hen lọt vào TOP 5 Hoa hậu hoàn vũ thế giới – thành tích cao nhất mà đại diện Việt Nam từ trước đến nay đạt được. Qua đó, H’Hen Niê đã giúp cho giới trẻ hiểu rõ hơn về việc “ý thức là chính mình” để tự tin bước vào đời, bước vào tương lai, cống hiến một phần sức lực nhỏ bé của mình cho sự phát triển của xã hội của đất nước. Kết thúc vấn đề. Câu 2. Cảm nhận của anh chị về hai đoạn thơ trên, từ đó làm sáng tỏ nhận xét “Tây Tiến phảng phất nét buồn, nét đau thương, nhưng buồn đau mà không bi lụy, ngược lại rất bi tráng” – Trần Lê Văn. Mở bài – Nêu được vấn đề sẽ triển khai trong bài viết + Hình ảnh người lính Hình ảnh người lính hi sinh giữa bao khó khăn gian khổ trên con đường hành quân hùng vĩ dữ dội và tâm hồn vừa lãng mạn hào hoa vừa gợi lên kiêu hùng, bi tráng giữa bao gian khổ, thiếu thốn trong kháng chiến. + Dẫn dắt được nhận xét “Tây Tiến phảng phất nét buồn, nét đau thương, nhưng buồn đau mà không bị lụy, ngược lại rất bi tráng”. – Đôi nét về tác giả, tác phẩm + Nhà thơ Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc…, nhưng trước hết ông là một thi sĩ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu và tài hoa. + Bài thơ “Tây Tiến” Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng và thơ ca kháng chiến chống Pháp. Thân bài 1. Nêu khái quát về bài thơ + Nguồn cảm xúc chủ đạo và xuyên suốt bài thơ chính là nỗi nhớ da diết của tác giả về vùng núi Tây Bắc và binh đoàn Tây Tiến. + Nổi bật lên giữa thiên nhiên vừa hùng vĩ dữ dội, đầy hiểm trở vừa thơ mộng trữ tình là hình ảnh người lính không ngại khó khăn gian khổ, hi sinh thiếu thốn với quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, với lý tưởng cao đẹp “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. 2. Cảm nhận hai đoạn thơ a. Đoạn thơ thứ nhất Hình ảnh người lính hi sinh giữa bao khó khăn gian khổ trên con đường hành quân hùng vĩ dữ dội giữa thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc. Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Dẫn dắt vào phân tích Đoạn thơ thứ nhất với bốn câu thơ đầu là hình ảnh người lính hi sinh giữa bao khó khăn, gian khổ trên con đường hành quân hùng vĩ, dữ dội giữa thiên nhiên núi rừng Tây Bắc khắc nghiệt… – 2 câu đầu Sự hi sinh của người lính giữa thiên nhiên khắc nghiệt. Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! + Người lính Tây tiến trong cuộc hành quân gian khổ trên những cung đường hùng vĩ dữ dội đã có người ngã xuống vì kiệt sức “Dãi dầu” là dầm mưa dãi nắng, thấm đẫm sương đêm, trải qua biết bao vất vả khó nhọc; “Không bước nữa” là kiệt sức, là không còn sức lực để bước tiếp “Gục lên súng mũ” là ngã xuống, nằm xuống “bỏ quên đời” là hi sinh, mất mát. + Cách nói giảm nói tránh “không bước nữa”, “bỏ quên đời” để làm giảm cái bi lụy đi thay vào đó là chất bi tráng, hào hùng. + Câu cảm thán Bày tỏ sự thương tiếc, sự biết ơn đến những người lính đã không màng tuổi trẻ, tuổi xuân của mình để sống và chiến đấu. – 2 câu sau Thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hoang vu, hẻo lánh luôn ẩn chứa những hiểm nguy, cái chết luôn rình rập và có thể đến bất cứ lúc nào. Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người + Phép nhân hóa “cọp trêu người – thác gầm thét” để tô đậm sự hoang vu, bí hiểm của núi rừng Tây Bắc. + Điệp ngữ “Chiều chiều”, “đêm đêm” gợi ra không gian về khuya, khi bóng tối tràn ngập thì những hiểm nguy từ thú dữ “cọp” luôn rình rập. b. Đoạn thơ 2 Hình ảnh người lính Tây Tiến vừa lãng mạn hào hoa vừa gợi lên kiêu hùng, bi tráng giữa bao gian khổ, thiếu thốn trong kháng chiến. Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng hiểu thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Dẫn dắt vào phân tích đoạn thơ thứ hai Nếu ở đoạn thơ thứ nhất là thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hoang vu luôn ẩn chứa hiểm nguy, để làm nổi bật lên sự hi sinh của người lính, thì đến với đoạn thơ thứ hai ta bắt gặp hình ảnh người lính Tây Tiến của lãng mạn, hào hoa vừa kiêu hùng, bi tráng, giữa bao gian khổ trong kháng chiến… – 2 câu thơ đầu Là hình ảnh người lính Tây Tiến kiêu hùng trong gian khổ. Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm + Ngoại hình ốm yếu, tiều tụy “không mọc tóc” đầu trọc, “quân xanh màu lá” da dẻ xanh ngắt, tím tái. + Hiện thực cuộc sống chiến đấu gian khổ do những ngày tháng hành quân vất vả vì đói, vì khát, vì những trận sốt rét rừng ác tính đã làm tóc rụng không mọc lại được, da dẻ héo úa xanh xao… + Bên cạnh cái bi ta còn thấy cái hào hùng nhờ thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn bên trong toát lên vẻ “oai hùm”. Điều đó cho thấy người lính Tây Tiến vẫn rất lạc quan, yêu đời, coi thường gian khổ. – 2 câu thơ sau Ý chí mãnh liệt và tâm hồn mộng mơ, lãng mạn của người lính. Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm + Hình ảnh “Mắt trừng” gợi nhiều liên tưởng “Mắt trùng” là mắt mở to nhìn thẳng về phía kẻ thù với chí khí mạnh mẽ, thể sống chết với kẻ thù. Hoặc cũng là đôi mắt “gửi mộng qua biên giới” mộng giết giặc, mộng lập công, mộng hòa bình. + “Mắt trừng” còn là đôi mắt có tình, đôi mắt “mộng mơ” thao thức nhớ về quê hương, nhớ về Hà Nội, và trong bóng Hà Nội là một “dáng kiều thơm”. Với ý thơ này, ta thấy người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng, cầm gươm đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc mà còn rất hào hoa, lãng mạn. – 2 câu thơ tiếp Là vẻ đẹp của người lính Tây Tiến còn được thể hiện qua lý tưởng và sự hi sinh cao đẹp. Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh + “Biên cương”, “viễn xứ” gợi không gian biên giới xa xôi, hẻo lánh, hoang vu. + Câu thơ gợi lên ý niệm về cái chết nhà thơ đã nhìn thẳng vào sự thật khốc liệt của chiến tranh, đã chiến tranh là phải có mất mát, phải có hi sinh. Quang Dũng miêu tả về cái chết chứ không hề né tránh hiện thực. * Cái bị thương bị át bởi vẻ đẹp lý tưởng “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh + “Chiến trường” là nơi có bom đạn rơi khốc liệt, nơi cái chết cận kề, dữ dội và gian nan có thể khiến những người lính trẻ hi sinh bất cứ lúc nào. “Đời xanh” là tuổi trẻ, là cuộc sống non xanh mơn mởn, tràn đầy nhựa sống. + Thế nhưng, họ đã ra đi mà “chẳng tiếc đời xanh”, hai chữ “chẳng tiếc” đặt giữa câu thơ nói lên thái độ thanh thản dứt khoát, hoàn toàn tự nguyện của những con người quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Tuổi trẻ với bao mơ mộng, hi vọng nhiều là thế, đẹp là thế, đáng yêu là thế mà sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc, hỏi có sự hy sinh nào cao đẹp hơn thế? – 2 câu thơ cuối Người lính Tây Tiến với tinh thần sẵn sàng hi sinh, dâng hiến sự sống, tuổi trẻ. Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành + Hiện thực cái chết của người lính gợi lên bao niềm thương cảm xót xa khi các anh về nơi an nghỉ cuối cùng một manh chiếu che ngang thi thể cũng không có, nhưng vẫn có một cách hiểu khác về câu thơ “áo bào thay chiếu” là có chiếu mà không có áo bào nhưng qua cái nhìn lãng mạn thì chiếc áo bạc vì mưa nắng, rách vì bom đạn đã trở thành chiếc áo bào” sang trọng. Cách nói “áo bào thay chiếu” là cách nói bi tráng hóa, tráng lệ hóa sự hi sinh của người lính. + Người lính ra đi dẫu không có tiếng kèn đưa tiễn của đám quân nhạc thì đã có khúc độc hành của dòng sông Mã, với chữ “gầm”, sông Mã đã “gầm lên khúc độc Thành”, tác giả đã trao cho con sông khúc nhạc hồn tử sĩ vừa đau thương vừa uất hận. Dường như cả đất trời, cả quê hương đang nghiêng mình tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. + Nghệ thuật nói giảm, nói tránh “Anh về đất”, vừa làm vơi đi nỗi đau thương vừa vĩnh viễn hoá sự hy sinh cao đẹp. Đối với người lính Tây Tiến chết chưa phải là hết, các anh về đất là về với đất mẹ. + Cái chết của người lính có gợi lên sự bị thương nhưng không bị lụy, trái lại vẫn mang vẻ đẹp hào hùng tráng lệ. 3. Làm sáng tỏ nhận xét “Tây Tiến phảng phất nét buồn, nét đau thương, nhưng buồn đau mà không bị lụy, ngược lại rất bi tráng” – Trần Lê Văn. – Giải thích + “Nét buồn, nét đau” là hiện thực cuộc sống kháng chiến đầy gian khổ, thiếu thốn, ở đó là sự hi sinh, mất mát của người lính khi ra chiến trường. + “Bi tráng” là vừa đau thương mất mất nhưng lại vừa hào hùng, kiêu hãnh. Câu nói “Bài thơ Tây Tiến phảng phất nét buồn, nét đau thương, nhưng buồn đau mà không bi lụy, ngược lại rất bi tráng” có nghĩa là sự buồn đau, mất mát, bi lụy chỉ là phảng phất thoáng qua còn vẻ đẹp đọng lại là sự hào hùng, kiêu hãnh, đầy bi tráng. – Làm sáng tỏ ý kiến * “Tây Tiến phảng phất nét buồn, nét đau thương” + Cuộc sống chiến đấu quá gian khổ, quá khắc nghiệt, những người lính phải đánh đổi bằng cả tính mạng, cả tuổi trẻ của mình, phải “bỏ quên đời” trên quãng đường Thành quân; phải gửi thân xác nơi “viễn xứ” xa xôi, hẻo lánh. + Cuộc sống chiến đấu trong thiếu thốn “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc / Quân xanh màu lá dữ oai hùm” và hi sinh cũng trong sự thiếu thốn “Áo bào thay chiếu anh về đất”. * Nhưng “buồn đau mà không bi lụy, ngược lại rất bi tráng” + Tâm hồn người lính vẫn rất lãng mạn hào hoa giữa những vất vả, khó khăn, thiếu thốn, vẫn mơ mộng về một “dáng kiều thơm”. + Được khắc họa rõ nét qua sự đối lập giữa ngoại hình ốm yếu, tiều tụy bên ngoài và tinh thần kiên định bên trong “oai hùm”. + “Bi tráng” bởi lý tưởng chiến đấu cao đẹp “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, dù biết phía trước là cái chết, xông lên là hi sinh nhưng vẫn tiến lên. – Đánh giá lại ý kiến Ý kiến tuy bàn về hai nội dung khác nhau là cái Bi và cái Tráng trong bài thơ Tây Tiến. Nhưng hai nội dung này không tách rời mà ngược lại chúng vừa bổ sung cho nhau vừa cùng nhau tạo nên sức hấp dẫn cho bài thơ. 4. Nghệ thuật – Bài thơ sử dụng hệ thống ngôn từ, hình ảnh ấn tượng, thủ pháp nghệ thuật cường điệu, tương phản được vận dụng một cách linh hoạt nhằm tô đậm những nét độc đáo khác thường, những vẻ đẹp cao cả của người lính Tây Tiến. – Qua đó, làm nổi bật chất hào hoa, kiều dùng của người lính, thể hiện hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn, tài hoa của ngòi bút mang tên Quang Dũng. 5. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Nguồn Trích từ sách “Kỹ năng xử lý và Luyện đề 2020” – cô Trần Thùy Dương -/- Kết thúc đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Văn 2021 số 7 theo cấu trúc chuẩn của Bộ Giáo dục tại đây. Các em có thể tham khảo thêm đề thi thử THPT quốc gia môn Văn của các tỉnh khác trên cả nước đã được chúng tôi cập nhật liên tục. Chúc các em một kì thi đạt kết quả cao nhất! Nếu có bắt kỳ thắc mắc nào về Đọc Hiểu Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình hãy cho chúng mình biết nhé, mọi câu hỏi hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình hoàn thiện hơn trong các bài sau nhé!Bài viết Đọc Hiểu Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình được mình và team tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết Đọc Hiểu Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình giúp ích cho bạn thì hãy ủng hộ team Like hoặc Share nhé!Đọc Hiểu Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình cách Đọc Hiểu Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình hướng dẫn Đọc Hiểu Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình Đọc Hiểu Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình miễn phí
một người lính nói về thế hệ mình