nghệ thuật chí phèo
Câu 1: "Chí Phèo" là tác phẩm của nhà văn nào sau đây? Câu 2: Tên thật của nhà văn Nam Cao là gì? Câu 3: Dòng nào sau đây nói đúng về năm sinh và năm mất của nhà văn Nam Cao? A. Sinh năm 1910, mất năm 1942. B. Sinh năm 1912, mất năm 1939. C. Sinh năm 1910, mất năm 1987. D. Sinh năm
CHÍ PHÈO, THỊ NỞ: TỪ VĂN HỌC ĐẾN SÂN KHẤU NGHỆ THUẬT. Bài: Phương Thảo B1K7 Trong văn học Việt Nam, "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao là một tác phẩm bất hủ phản ánh số phận cơ cực và tiền đồ đen tối của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám.
"Chí Phèo", do đạo diễn Nghệ sĩ Nhân dân Lê Hùng dàn dựng, không đơn thuần kể lại câu chuyện đã quá quen thuộc với khán giả mà thổi vào đó hơi thở của đời sống hiện đại để thức tỉnh hoặc lay động lương tri con người. Vở diễn đã rất thành công và gây ấn tượng tốt với khán giả thủ đô Rome.
Nhân vật Chí Phèo là một tên lưu manh chuyên được Bá Kiến sai đi đâm chém với vô vàn những nhát dao trên khuôn mặt "không ra mặt người". Gặp Thị Nở trong một cơn say và cũng là cơn tỉnh của cuộc đời, để từ đó, hắn muốn làm lại một con người lương thiện. Bùi Cường vào vai Chí Phèo năm 1982
Ông đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học, Nghệ thuật (đợt 1, 1996) cho các tác phẩm: Nhật ký ở rừng, Đôi mắt (truyện ngắn), Sống mòn (tiểu thuyết), Truyện ngắn chọn lọc (xuất bản năm 1964), Chí Phèo (truyện ngắn), Nửa đêm (truyện ngắn).
ibukota negara bagian texas amerika serikat tts. Những tác phẩm của Nam Cao, tựa như những lưỡi dao đanh thép, xóa tan đi cái vẻ ngấm ngầm yên ả của một làng quê, một xã hội tàn tạ, một đất nước đang chịu cảnh tù đày. Ở Nam Cao, chất hiện thực tồn tại một cách nặng nề, ám ảnh. Cái đói, cái ăn, cái mặc quẩn quanh những nhân vật của ông, thi nhau giằng xé và đẩy chính nhân vật đến đường cùng. Nam Cao cũng là nhà văn đi đầu trong văn học hiện thực với những tư tưởng về nghệ thuật mới lạ. Trong đó, không thể không nhắc tới những không gian nghệ thuật trong các tác phẩm của ông. Không gian trong các sáng tác của Nam Cao hầu hết là vùng nông thôn, những căn nhà nơi thôn dã, những con đường làng. Trong những mối liên hệ của thời gian và không gian, làng quê, ngôi nhà, con đường hóa ra là cơ bản và quan trọng nhất, được thể hiện rất rõ qua tác phẩm Chí Phèo. Phân tích chi tiết bát cháo hành của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo Review "Sống mòn" Nam Cao - Sống mòn cái kiếp đời thừa Những cuốn sách thiếu nhi hay nhất mọi thời đại Không gian làng Vũ Đại Khác với nhiều truyện ngắn cùng đề tài của tác giả, “Chí Phèo” có phạm vi hiện thực được phản ánh trải ra trên cả bề rộng không gian một làng quê. Có thể nói, làng Vũ Đại trong truyện chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến nông thôn Việt Nam đương thời. Miêu tả về không gian làng Vũ Đại, tác giả đã dùng câu “ quần ngư tranh thực”, để diễn tả khung cảnh hỗn loạn trong một làng quê vốn dĩ tưởng yên bình. Quan lại ức hiếp nhân dân, địa chủ đè đầu nông dân, giai cấp thống trị tận hưởng hạnh phúc dựa trên nỗi đau và nước mắt của giai cấp bị trị. Không gian rộng lớn, bao trùm toàn bộ tác phẩm. Làng Vũ Đại – một cái làng đầu tỉnh cuối huyện, vừa hẻo lánh vừa xơ xác, một mảnh đất nghèo túng. Làng Vũ Đại trong “Chí Phèo” lại mang cái vẻ vắng lặng, hoang vu của một vùng quê xơ xác, chất chứa nhiều bất hạnh và đắng cay. Trong không gian u ám, tù túng ấy, đã có biết bao nhiêu số phận giống như Chí Phèo bị đày đọa. Không gian ở đây “yên tĩnh quá” đến nỗi người ta có thể nghe thấy “tiếng thở ra u ám” của những “giậu tre rậm như rừng”, thậm chí có thể nghe thấy cả “tiếng kêu rầm rĩ của những thớ gỗ trong cái kèo cái cột, hình như chúng tê mỏi mà vươn mình hay sốt ruột mà rên lên” .Cái không gian vắng lặng ấy đôi khi cũng bị khuấy lên bởi những tiếng hờ, tiếng khóc, tiếng chửi trời chửi đất, sau đó, cả làng quê lại như chìm lặng đi trong đói khát, ốm đau và tủi nhục. Làng Vũ Đại hiện lên với một vẻ hoàn toàn khác những gì người ta mường tượng về một làng quê, không còn cái vẻ yên bình của một vùng nông thôn, mà tồn tại những cơn sóng đang đe dọa những phận đời, phận người. Tất cả đều như đang cố gắng dồn con người vào đường cùng, ép họ phải chết, phải kết thúc cuộc đời của mình ngay trước ngưỡng cửa của sự lương thiện. Không gian túp lều ven sông Không gian sống của Chí Phèo nằm cạnh bờ sông, nơi con nước trong lành , nơi duy trì nguồn sống của con người, nơi có ánh trăng vàng rực rỡ, ấm áp, có tiếng chim hót ríu rít, có tiếng nói cười vui vẻ của những người đi chợ về. Ở đấy, vào “những đêm trăng như đêm nay, cái vườn phẳng ngổn ngang những bóng chuối. Những tàu chuối nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng rời rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay giãy lên đành đạch như là hứng tình”. Nơi một người được cho là tên côn đồ ở, là nỗi khiếp sợ của mọi người lại tách biệt hoàn toàn với thế giới lộn xộn bên ngoài, đẹp đẽ với sự bình yên thật sự. Túp lều ven sông – tài sản duy nhất của Chí Phèo được miêu tả với không gian “ẩm thấp” và ánh sáng “ hơi lờ mờ”. “Ở đâu người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Túp lều ấy “Ở gần một con sông con, nước lặng và trong, khắp bãi trồng toàn dâu, gió đưa đẩy những thân mềm oặt ẹo, cuộn theo nhau thành làn”. Dẫu hòa vào thiên nhiên, nhưng hoàn toàn bị cô lập tách biệt khỏi xã hội. Không gian này được xây dựng để miêu tả cảnh tượng lẻ loi, cô đơn của Chí Phèo, bị người đời xa lánh, khinh miệt. Túp lều ven sông trở thành một nơi đáng sợ với người dân trong làng, tượng trưng cho những định kiến xã hội thời bấy giờ. Không gian bụi chuối ven sông Khác hoàn toàn với những không gian trên, Nam Cao xây dựng không gian này đầy sự lãng mạn, nơi bắt đầu và chứng kiến mối tình của Thị Nở và Chí Phèo, mối tình nghịch đạo lý nhưng đã cứu sống được cả một đời người trước khi nó kịp lụi tàn. “Những tàu chuối đen nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lạy giãy lên đành đạch như là hứng tình”. Khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, tuyệt thơ mộng thường được dùng làm bối cảnh cho các mối tình lãng mạn. Vậy mà ở đây, Nam Cao đã để Chí Phèo gặp Thị Nở - người đàn bà “ngẩn ngơ, dở hơi, xấu xí” dưới thiên nhiên vô tư, trong trẻo đầy thi vị ấy. Không gian đầy vẻ lãng mạn, tượng trưng cho sức mạnh của tình yêu có khả năng cảm hóa con người, cứu sống một cuộc đời tưởng chừng đã tha hóa trong cốt tủy. Đây là không gian đánh dấu sự nhận thức mới trong Chí Phèo, từ một con quỷ của làng Vũ Đại, đến một người đàn ông khao khát được yêu thương. Chí đã có thể có lúc tỉnh táo để mà lắng nghe âm thanh của đất trời của những cô những chị đi chợ về. Rồi chợt Chí khao khát có thể cưới vợ rồi có mảnh đất ăn với không gian nơi sống của Chí Phèo, sự thay đổi do không gian bụi chuối ven sông tác động đã dẫn tới sự thay đổi về nhận thức, khiến Chí Phèo nhìn nơi mình sống một cách tươi tắn hơn, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc trong văn học hiện thực của Việt Nam, có rất nhiều nghệ thuật được tác giả sử dụng một cách tài tình, đầy dụng ý. Không phải ngẫu nhiên mà tác phẩm này trở thành kinh điển, vừa đả kích hiện thực, vừa ca ngợi tình yêu chân thành. Thảo Nguyên Bạn đang đọc các câu chuyện cổ tích tại website - Kho tàng truyện cổ tích chọn lọc Việt Nam và Thế Giới hay nhất và ý nghĩa cho mọi lứa tuổi dành cho thiếu nhi, tổng hợp trên 3000 câu chuyện cổ tích chọn lọc hay nhất Việt Nam và thế giới. Tại luôn được cập nhật thường xuyên, đầy đủ và chính xác nhất về truyện cổ tích giúp bạn dễ dàng tìm kiếm cho mình câu truyện cổ tích cần tìm. Danh sách những truyện cổ tích việt nam hay nhất Truyền thuyết Thánh gióng, truyện cổ tích tấm cám, sọ dừa, truyền thuyết về Sơn Tinh - Thủy Tinh, truyền thuyết hồ hoàn kiếm, sự tích trầu cau, sự tích con rồng cháu tiên, truyền thuyết thành cổ loa, Cóc kiện trời, Sự tích Táo Quân, chú thỏ tinh khôn, Sự tích chùa Một cột, Chàng ngốc học khôn, Sự tích sấm sét, Sự tích hoa Mào gà, Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung, truyện cổ tích trí khôn của ta đây, Sự tích con chuồn chuồn, Sự tích Hòn Vọng Phu, Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy, sự tích cây khế, Sự tích Thánh làng Chèm, Sự tích thỏ tai dài đuôi ngắn, Sự tích hoa mười giờ, Sự tích chim Quốc, Sự tích công chúa Liễu Hạnh, Cây táo thần, thạch sanh,… Tổng hợp các câu chuyện cổ tích thế giới hay và ý nghĩa nhất, truyện cổ grimm, truyện cổ Andersen, cổ tích thần kỳ Nàng công chúa ngủ trong rừng, Alibaba và bốn mươi tên cướp, Nàng công chúa chăn ngỗng, Cô bé lọ lem, Chú bé tí hon, Ông lão đánh cá và con cá vàng, nàng bạch tuyết và bảy chú lùn, Truyện cổ tích Bà chúa tuyết, Aladdin và cây đèn thần, Ba sợi tóc vàng của con quỷ, Hoàng tử ếch, Con quỷ và ba người lính, Cô bé quàng khăn đỏ,…
Tác phẩm Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Nam Cao nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Đây là một truyện ngắn không chỉ đem lại giá trị nội dung vô cùng sâu sắc, mà giá trị nghệ thuật của nó cũng là một đề tài vô cùng hay trong chương trình Ngữ văn lớp 11 cần ghi nhớ. Cùng tham khảo nội dung chi tiết dưới đâyTóm tắtgiá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo - Nam CaoĐể có thể ghi nhớ được tất cả những giá trị trong nội dung và cả nghệ thuật thì các em có thể ghi nhớ những chi tiết quan trọng như sauVề nội dung- Tố cáo xã hội phong kiến bất công khiến con người sinh ra là người mà lại không được làm người- Thông qua đó nhấn mạnh hình ảnh và bản chất tốt đẹp của người dân lao động ngay cả khi tưởng họ đã bị xã hội tàn bạo cướp đoạt tất nghệ thuật- Nghệ thuật điển hình hoá nhân vật- Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình- Nghệ thuật trần thuật, kết cấu mới mẻ, linh hoạt, phóng túng- Ngôn ngữ, giọng điệu sinh động- Cốt truyện độc đáo, các tình tiết giàu kịch hiểu rõ hơn về tác phẩm các em có thể tham khảo bài soạn bài Chí Phèo với những phân tích chi tiết để nêu bật giá trị của tác trị nội dung và nghệ thuật trong Chí PhèoGiá trị nội dung trong tác phẩm Chí Phèo của Nam cao- Giá trị hiện thựcSự đàn áp, bóc lột và tàn ác của bọn thực dân, phong kiến đối với những người nông dân trong xã hội xưaSố phận của người nông dân Việt Nam trước cách mạng lại vô cùng thê thảm, bần cùng và trở thành lưu manh. Họ bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa và cái chết là điều tất yếu để giải thoát họ khỏi những đau Giá trị nhân đạoLời kết án đanh thép xã hội thực dân, phong kiến tàn bạo đã phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động hiền lành, chất chứng Hình ảnh thu nhỏ của cả một xã hội với tất cả các tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ chính là chân dung của những kẻ như Bá Kiến, như bà cô Thị Nở, như những người dân làng Vũ cảm thông, chia sẻ, đau xót khi chứng kiến những con người hiền lành, lương thiện bị dày vò, tha hóa thành con quỷ dữ của cả làng Vũ chứng Kể cả khi Chí Phèo đã khao khát quay trở về làm người lương thiện thì xã hội ích kỉ, hẹp hòi kia cũng sẽ không chừa chỗ lại cho hắn. Hắn chỉ còn một con đường duy nhất là cái chết để giữ lại sự lương thiện cuối cùng trong con người định niềm tin của tác giả vào bản chất lương thiện của những người nông dânDẫn chứng Ngay cả khi họ bị vùi dập, mất cả nhân hình lẫn nhân tính thì khao khát được sống, được yêu thương và hạnh phúc cũng chưa bao giờ bị dập tắt trong họLà lời cảnh báo của tác giá với số phận của những người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, nếu không thay đổi thì cuộc sống của họ cũng sẽ bế tắc, tuyệt vọng, tha hóa, lưu manh hóa và cái chết sẽ là điều không thể tránh chứng Điều ấy được thể hiện qua chi tiết Thị Nở nhìn nhanh xuống dưới bụng và lời dự báo về một Chí Phèo con sẽ ra trị nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo của Nam cao1. Nghệ thuật điển hình hoá nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến là những điển hình đặc sắc trong tác phẩm. Vừa sinh động, độc đáo, không lặp lại, các nhân vật này mang sức khái quát cao cho mối xung đột diễn ra khốc liệt ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo. Hắn là điển hình sinh động cho những người nông dân cố cùng bị hủy hoại, tha hoá đến tận cùng bởi thế lực tàn bạo -> xây dựng nhân vật điển hình sắc Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tìnhTrong truyện ngắn đã tạo nên những đoạn văn tuyệt bút. Số phận và bi kịch của Chí Phèo được đào sâu cực độ qua những đoạn văn hay như đoạn Chí Phèo thức tỉnh sau đêm say rượu gặp Thị Nở; đoạn Chí Phèo bị cự tuyệt tình yêu...3. Cốt truyện độc đáo, các tình tiết giàu kịch tính, luôn biến hoá mang lại nhiều bất ngờ cho người đọcKết cấu vòng tròn, khép kín đã tạo nên chiều sâu cho thiên truyện Mở đầu truyện bằng hình ảnh đứa bé trần truồng xám ngắt nằm bên chiếc lò gạch cũ, kết thúc bằng hình ảnh Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng mình và thoáng nghĩ đến một cái lò gạch xa xôi vắng người qua lại...=> Kết cấu này cho thấy số phận bế tắc, quẩn quanh không lối thoát của kiếp người trong xã hội bóc lột. Chí Phèo chết nhưng còn bao nhiêu số kiếp Chí Phèo sẽ lại tái diễn?4. Ngôn ngữ, giọng điệu sinh độngNgôn ngữ, giọng điệu của Nam Cao được thể hiện một cách sinh động, đa dạng trong truyện ngắn này. Ngòi bút hiện thực vừa tỉnh táo, khách quan, sắc lạnh lại vừa đằm thắm, trữ tình như hòa quyện, xuyên thấm vào ra, giọng trần thuật cũng thay đổi phù hợp với diễn biến tâm lý nhân vật, khi thì dùng lời kể trực tiếp, khi thì nửa trực tiếp, khi lại có sự đan xen giữa hai giọng kể trên một cách nhịp nhàng, nhuần nhuyễn dẫn chứng đoạn văn mở đầu tác phẩm, đoạn miêu tả tâm trạng khi ăn bát cháo hành, đoạn độc thoại nội tâm của Bá Kiến.5. Cách dẫn chuyện linh hoạt và vô cùng hấp dẫnĐoạn mở đầu rất độc đáo gây ấn tượng mạnh bởi lối trần thuật nửa trực tiếp, có sự đan xen giữa lời người kể chuyện Hắn vừa đi vừa chửi... với độc thoại của nhân vật Ờ! Thế này thì tức thật!....Tác giả đã phá vỡ trật tự thông thường, dùng lối tự sự theo dòng nội tâm nhân vật để thuật lại diễn biến sự việc. Vì thế, trong lời trần thuật, hiện tại và hồi ức cứ lồng ghép vào nhau đoạn mở đầu, đoạn tả Chí Phèo “bâng khuâng tỉnh dậy sau một cơn say rất dài” ở cuối truyện,..., lời người kể và lời nhân vật có khi nhập vào nhau khiến cho điểm nhìn trần thuật cũng thay đổi một cách linh động lúc thì câu chuyện được thuật lại bằng một cái nhìn khách quan từ bên ngoài, lúc lại chuyển hoá thành điểm nhìn chủ quan của nhân vật từ bên trong.So với dung lượng của một truyện ngắn thì tác phẩm Chí Phèo tương đối dài, nhưng nó không hề nhàm chán bởi cách dẫn chuyện luôn biến ảo cùng những độc thoại nội tâm sinh động chẳng hạn độc thoại nội tâm của nhân vật Chí Phèo sau cơn tỉnh rượu.Kết luậnNhững cảm nhận và đánh giá khái quát về giá trị của nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí thể nêu ra suy nghĩ và liên tưởng của em về tác đây là những nội dung cơ bản đánh giá và phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo - Nam Cao. Mong rằng bài viết này sẽ giúp các em củng cố lại kiến thức về tác phẩm và áp dụng làm dạng bài phân tích giá trị nội dung nghệ thuật của một tác phẩm! Chúc các em làm bài tốt !
Phân tích bài Chí Phèo – Nam Cao để thấy được cách xây dựng nhân vật điển hình và tình huống điển hình trong ngòi bút hiện thực phê phán của Nam Cao. Tác phẩm trở thành một khuôn mẫu tiêu chuẩn của văn học Việt Nam khi viết về chủ đề người nông dân trong xã hội cũ. Sau đây là phần phân tích chi tiết tác phẩm dựa trên giáo án chuẩn và tài liệu văn học Việt Nam. Mời các bạn cùng Kiến Thức Tổng hợp tìm hiểu chi tiết! Bài viết nổi bật Phân tích bài vợ chồng A Phủ Phan tích bài vợ nhặt Nội dung bài viết1 Đôi nét về nhà văn Nam Tiểu sử nhà văn Nam Sự nghiệp sáng tác của Nam Các tác phẩm tiêu Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao2 Giới thiệu tác phẩm Chí Khái quát cốt truyện Chí Phân tích bài Chí Phèo – giá trị nội dung và nghệ thuật3 Phân tích bài Chí Phèo – các tình huống truyện4 Phân tích bài Chí Phèo – bi kịch tha hóa của người nông Phân tích nhân vật Chí Phèo trước khi ở Phân tích nhân vật Chí Phèo sau khi đi tù Phân tích nhân vật Chí Phèo khi gặp Thị Phân tích bài Chí Phèo – ý nghĩa của cái chết5 Phân tích nhân vật Bá Kiến6 Phân tích bài Chí Phèo – hình ảnh Làng Vũ Đại Đôi nét về nhà văn Nam Cao Nam Cao 1915 – 1951, ông là một trong những tên tuổi có sức ảnh hưởng lớn nhất trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Sáng tác của ông đã vượt qua giá trị khuôn khổ thời gian và thời đại. Càng về sau, thì những giá trị hiện thực, tư tưởng và nghệ thuật từ Nam Cao càng trở nên sâu sắc, thấm nhuần. Ông là cây bút đi đầu và quan trọng nhất trong trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945. Tiểu sử nhà văn Nam Cao Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1917 theo giấy tờ, còn theo lời em trai Trần Hữu Đạt thì ông sinh năm 1915. Quê quán làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam – nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Bút danh Nam Cao được lấy từ tên quê hương ghép thành. Xuất thân trong gia đình công giáo Cha tên Trần Hữu Huệ, thợ mộc, làm thuốc Mẹ tên Trần Thị Minh làm vườn, làm ruộng và dệt vải Lớn lên trong gia đình không mấy khá giả, ông bươn chải nhiều nghề kiếm sống. Ban đầu tiếp xúc với văn chương cũng chỉ là nghề mưu sinh. Bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ những năm 1936 những mãi đến năm 1941. Khi truyện ngắn Chí Phèo ra đời tên ban đầu là Cái lò gạch cũ thì tên tuổi nhà văn Nam Cao mới được khẳng định trong nền nghệ thuật văn xuôi Việt Nam. Nhà văn Nam Cao và sự nghiệp sáng tác Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao Năm 1936, ông bắt đầu tham gia sự nghiệp sáng tác nhưng lúc này chưa có nhiều thành tựu lớn. Năm 1941, ông ra mắt tác phẩm Chí Phèo tên bấy giờ là Cái lò gạch cũ. Sau còn chuyển thành Đôi lứa xứng đôi cho hợp thị hiếu, đổi tên lần cuối thành Chí Phèo. Mang tên tuổi nhà văn trở thành cái tên đi đầu của văn chương hiện thực phê phán. Năm 1943, ông tham gia Hội văn hóa cứu quốc và là một trong những thành viên đầu tiên của tổ chức. Thời gian này, nhà văn cho ra mắt tác phẩm Đời Thừa nổi tiếng. Năm 1945, Nam Cao được cử làm Chủ tịch xã của chính quyền địa phương phủ Lý Nhân. Ông cho in truyện ngắn Mò sâm banh và được phát hành trên tờ báo Tiên Phong. Năm 1946, Nhà văn hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc tại Hà Nội. Sau này, ông trở vào Nam làm phóng viên, cho in ấn truyện ngắn Nỗi truân trên báo Tiên Phong. Sau ông lại về Bắc và nhận làm báo Giữ nước và Cờ chiến thắng ở Hà Nam Năm 1947, ra mắt tác phẩm Nhật ký ở rừng, trong một lần lên Việt Bắc và làm thư ký cho tòa soạn báo Cứu quốc. Năm 1948, Nam Cao chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1950, nhà văn được bầu làm Ủy viên tiêu biểu ban văn nghệ của Trung ương Đảng và tham gia chiến dịch biên giới. Ông công tác tại tòa soạn tạp chí Văn nghệ. Năm 1951, trong một lần công tác tại Ninh Bình, ông bị địch bắt và xử bắn. Các tác phẩm tiêu biểu Mặc dù nhà văn ra đi ở tuổi đời còn khá trẻ thế nhưng ông đã cống hiến và sở hữu một kho tàng văn chương đồ sộ, để lại cho nền văn học – nghệ thuật nước nhà nhiều tác phẩm đắt giá. Trong đó, nhà văn cũng tham gia sáng tác nhiều thể loại như Kịch, tiểu thuyết, truyện ký. Nhưng tiêu biểu nhất vẫn là truyện ngắn Nam Cao. Sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Nam Cao Các tác phẩm tiêu biểu không chỉ của riêng nhà văn Nam Cao mà còn có giá trị vô cùng to lớn, trong nền văn học hiện đại Việt Nam Tiểu thuyết Sống mòn Truyện ngắn Đôi mắt Truyện ngắn Chí Phèo Truyện ngắn Lão Hạc Truyện ngắn Đời thừa Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao – Ông là nhà văn gắn liền với người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ, đi theo quan điểm “Nghệ thuật vị nhân sinh”. – Mặc dù cơ duyên với nghề cầm bút chỉ bắt đầu từ nhu cầu mưu sinh nhưng hính cái thực tế nghèo nàn, “bán nghệ” ấy mà Nam Cao càng ý thức sâu sắc giữa Sống và Viết. Nam Cao rất có ý thức về quan điểm nghệ thuật của mình. Tất cả giới văn học không ai có thể bác bỏ rằng Nhắc đến Nam Cao là nhắc đến chủ nghĩa Văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945. – Khi bắt đầu sáng tác, ông bị ảnh hưởng bởi trường phái văn chương lãng mạn, xa rời hiện thực. Nam Cao sớm ý thức ra thứ nghệ thuật đó là “ánh trăng lừa dối”. Sự chuyển biến trong quan điểm nghệ thuật này được thể hiện rõ nét qua tác phẩm Trăng sáng. “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than!”. – Cho đến tác phẩm Đời thừa 1943. Nam Cao một lần nữa khẳng định và đề cao tính thời đại – sáng tạo trong văn chương “Một tác phẩm văn học phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người” và “Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có”. – Sau 1945, ông tham gia cách mạng và khẳng định sẵn sàng hi sinh thứ nghệ thuật cao siêu vì Dân tộc là trên hết. Ông quan niệm “Sống đã rồi hãy viết” và “Góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn“. Quan điểm văn chương Giới thiệu tác phẩm Chí Phèo Chí Phèo 2/1941 là truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao, một tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam viết về người nông dân trong xã hội cũ. Thể loại Tự sự Đề tài Người nông dân nghèo trước Cách Mạng Hoàn cảnh xã hội Giai đoạn Việt Nam trong thời kỳ nửa thực dân nửa phong kiến. Đời sống nhân dân đói khổ cùng cực, đầy rẫy bất công, vô cùng thê lương. Hoàn cảnh cảm hứng Dựa vào những người thật, việc thật ngay tại làng quê nơi nhà văn sinh sống vào trước Cách Mạng tháng Tám. Được biết, nhân vật Chí Phèo trung tâm của tác phẩm được lấy nguyên mẫu từ 3 người thật. Nhân vật Thị Nở được lấy cảm hứng từ 2 người trong đó có chính mợ của nhà văn. Cuối cùng là hình tượng Bá Kiến được lấy từ chính nhân vật cai quản làng bấy giờ. Mà cho đến nay, căn nhà của địa chủ được cho là nhân vật nguyên mẫu của Bá Kiến vẫn còn được lưu giữ. Khái quát cốt truyện Chí Phèo Phân tích bài Chí Phèo Truyện kể về cuộc đời nhân vật mang tên Chí Phèo, đứa con hoang bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ. Chí lớn lên như loài cỏ dại, đến ở hết gia đình này đến gia đình khác. Năm 20 tuổi, Chí vào làm tá điền cho nhà Bá Kiến, bị lão ghen rồi bỏ tù. Sau khi ra tù, hắn biến chất từ thanh niên hiền lành thành tên ma men, “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Khi say thì chuyện ác gì cũng dám làm, trở thành tay đòi nợ thuê đắc lực cho Bá Kiến. Trong một đêm say, Chí gặp và ân ái cùng Thị Nở. Nhận được sự chăm sóc vô điều kiện của ả, Chí khát khao cuộc sống gia đình và làm người lương thiện. Tuy nhiên, chuyện tình Chí với Nở bị bà cô già ngăn cấm kịch liệt. Chí đâm uất ức, đau khổ đến nhà Bá Kiến giết chết lão, rồi tự tử. Giới thiệu truyện ngắn Chí Phèo Phân tích bài Chí Phèo – giá trị nội dung và nghệ thuật Giá trị nội dung Tố cáo xã hội phong kiến bất công, tước đoạt quyền làm người và những mong cầu đời sống cơ bản nhất của con người. Ca ngợi bản chất tốt đẹp của người dân lao động ngay cả khi tưởng họ đã bị xã hội tàn bạo cướp đoạt tất cả. Giá trị nghệ thuật Nghệ thuật điển hình hóa nhân vật Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tài tình Nghệ thuật trần thuật, kết cấu mới mẻ, linh hoạt, phóng khoáng Cốt truyện độc đáo, các tình tiết giàu kịch tính Ngôn ngữ, giọng điệu sinh động Xem thêm Cách xác định các loại phương thức biểu đạt trong văn học Giá trị nhân đạo Bản tố cáo đanh thép xã hội thực dân, phong kiến tàn bạo đã tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, chà đạp quyền sống quyền làm người của họ. Niềm cảm thông, đau xót trước bi kịch cuộc đời những người nông dân như Chí Phèo trong xã hội Việt Nam. Khẳng định niềm tin vào phần người, sự lương thiện trong con người dù đau khổ đến đâu cũng không chết đi. Nó chỉ có lúc bị lấn át, bị chèn ép nhưng nhất định sẽ vùng lên chiến thắng cái ác. Lời cảnh báo của nhà văn về hiện thực xã hội, kết cục những con người dưới đáy xã hội không quyền lực. Dự báo về một cuộc nổi dậy của quyền con người, đứng lên và chiến đấu với cái ác. Đó là sự thể hiện quy luật tất yếu của đời sống có áp bức sẽ có đấu tranh. Thức tỉnh tầng lớp nông dân nhận ra kẻ thù thực sự của mình. Bóc lột sự gian xảo, ti tiện của giai cấp phong kiến bắt tay với bè lũ cướp nước. Ý nghĩa tác phẩm Phân tích bài Chí Phèo – các tình huống truyện Truyện ngắn Chí Phèo diễn ra với 3 tình huống bước ngoặt, tương ứng với 3 giai đoạn cuộc đời. Mà khi phân tích bài Chí Phèo, ta sẽ gặp lại một lần nữa. Tình huống 1 Chí bị đưa đi ở tù, từ một người lương thiện biến thành con quỷ dữ. Tình huống 2 Chí gặp được thị Nở, lần đầu tiên hắn có mơ ước, lần đầu tiên hắn khát khao được sống như bao người lương thiện bình thường. Tình huống 3 Tình huống bị cự tuyệt, hắn lao vào đau khổ và phẫn uất không thể giải thoát, cuối cùng tự sát. Đoạn trích “Chí Phèo” trong chương trình Ngữ Văn 11, tập 1 là nửa sau tác phẩm. Bao gồm 2 tình huống truyện là khi Chí gặp Nở và tình huống bị cự tuyệt quyền làm người ở cuối truyện. Xem thêm Các biện pháp tu từ thường gặp trong Ngữ Văn thi THPT Phân tích bài Chí Phèo – bi kịch tha hóa của người nông dân Cùng tên với tác phẩm. Chí Phèo là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Đại diện cho hình ảnh người nông dân bị áp bức bóc lột trong xã hội phong kiến. Đẩy họ đến mức tha hóa về đạo đức, mất hết nhân tính và tình người. Trở thành mục tiêu lợi dụng, kiếm chác của giai cấp cầm quyền. Cuộc đời của Chí được khắc họa qua ba giai đoạn chính Giai đoạn 1 Chí ở tuổi đôi mươi, là người con trai khỏe mạnh hiền lành. Đi vào làm tá điền cho nhà Lý Kiến, cuối cùng bị bắt vu oan, bỏ tù. Giai đoạn 2 Chí về làng sau 7, 8 năm và trở thành tay sai cho Bá Kiến. Hắn lúc này đã trở nên tàn ác, “con quỷ của làng Vũ Đại”. Người ta vừa khinh mà cũng vừa sợ dính vào hắn, nên ai ai cũng phớt lờ. Chí bị người dân làng loại bỏ ra khỏi xã hội, cơ thể và tâm hồn hắn bị tàn phá nặng nề. Đó là hiện hình của người nông dân bị xã hội áp bức đến cùng cực, phải tha hóa để giữ mạng sống. Giai đoạn 3 Chí gặp Thị Nở, lần đầu tiên hắn nhận được sự quan tâm và chăm sóc của người khác. Hắn vui như đứa trẻ, bắt đầu biết mộng mơ về cuộc đời, nghĩ về một mái ấm riêng… Khát khao làm người lương thiện thế mà bị vùi dập bởi người dì Thị Nở. Hắn phẫn uất tìm đến nhà Lý Kiến, kẻ thù đã biến hắn thành ra như vậy. Hắn giết chết Bá Kiến, đồng thời tự kết liễu mình. Nhận định về Chí Phèo Phân tích nhân vật Chí Phèo trước khi ở tù Hoàn cảnh xuất thân Không cha không mẹ, không nhà, không cửa, không một tấc đất cắm dùi, như một kẻ ở đợ hết nhà này đến nhà khác. Cuộc sống cày thuê cuốc mướn để sống, không có vốn liếng cũng chẳng tiền đồ. Chí từng mơ ước có một gia đình nhỏ, sống bằng nghề cày thuê cuốc mướn mà an cư. Đây là ước mơ rất đỗi bình thường, giản dị. Cũng cho thấy bản chất Chí là một người lương thiện, đơn thuần. Năm 20 tuổi vào làm tá điền cho nhà Lý Kiến. Chí Phèo bị bà Ba người vợ trẻ trung của bá Kiến gạ gẫm, “nhờ” nắn đùi cho. Đã thế, càng lúc càng hối Chí phải “nắn cao lên”. Dưới những lời gạ gẫm của người đàn bà xinh đẹp, Chí “cảm thấy nhục chứ yêu đương gì”. Rõ ràng anh là người đàn ông có tự trọng, ý thức về nhân phẩm. Rõ ràng, với sức khỏe, tuổi trẻ và sự lương thiện của Chí Phèo. Người thanh niên kia hoàn toàn có quyền nghĩ về ước mơ đơn thuần của mình. Xứng đáng có được cuộc sống bình yên, êm ấm như bao nhiêu người khác. Phân tích nhân vật Chí Phèo sau khi đi tù về – Nguyên nhân trực tiếp Bị Bá Kiến ghen với chuyện “nắn bóp” cho bà Ba. – Nguyên nhân sâu xa Âm mưu thâm hiểm của tầng lớp cai trị mà cụ thể là Lý Kiến. Lão muốn biến Chí Phèo trở thành bè lũ tay chân, thay hắn làm chuyện ác – Sự thay đổi đầu tiên của Chí Do chế độ nhà tù thực dân biến Chí thành lưu manh, hình hài lẫn tính cách méo mó và quái dị. Sự coi thường, ngó lơ của dân làng Vũ Đại, coi hắn như “một con quỷ dữ” khiến Chí hoàn toàn bị cự tuyệt khỏi xã hội loài người. – Hình hài hung tợn “Cái đầu trọc lốc, hàm răng cạo trắng hớn, cái mặt thì câng câng đầy những vết sứt sẹo, hai con mắt gườm gườm…” – Nhân tính méo mó “hắn đập tan biết bao nhiêu cơ nghiệp, phá vỡ biết bao cảnh êm ấm”. Chí trở nên hung tợn, du côn, chửi bới, phá phách… Kết luận Chí bị đánh mất cả hình hài lẫn nhân tính. Từ một anh tá điền đơn thuần, chất phác thành con quỷ không ghê máu người. Nếu trước đây hắn là đứa trẻ mồ côi, tuy vất vưởng như cỏ dại nhưng vẫn được dân làng cưu mang, còn có ích. Nay thậm chí giao tiếp với đồng loại, hắn cũng bị khước từ. Đó là chân dung bức tranh người nông dân bị chế độ, giai cấp áp bức đến thống khổ trở nên méo mó, xộc xệch nhân hình lẫn nhân tính, bị tước đi quyền làm người. Phân tích nhân vật Chí Phèo khi gặp Thị Nở Cuộc gặp gỡ Chí Phèo – Thị Nở Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo với thị Nở – người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn, tính tình lại dở hơi – đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời Chí. Thị đã đánh thức phần người tưởng như đã chết trong con người hắn. Đây là chi tiết mang tính bước ngoặt khi phân tích bài Chí Phèo. – Thức tỉnh về nhận thức Nhận ra những âm thanh của cuộc sống hàng ngày, mà chẳng bao giờ ăn để ý trước kia. Hắn nhận ra bị kịch cô độc của cuộc đời mình. Nhận thấy “cô độc còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. – Thức tỉnh về ý thức Hắn thèm lương thiện và mong muốn làm hòa với mọi người. – Hình ảnh bát cháo hành hết sức độc đáo và ý nghĩa Lần đầu tiên hắn được ăn trong tình yêu thương và hạnh phúc. Bi kịch bị cự tuyệt của Chí Phèo, với nguyên nhân trực tiếp là sự phản đối từ người dì của Thị Nở. – Nguyên nhân sâu xa Định kiến xã hội, sự cố chấp và vô cảm đối với những người muốn trở về cuộc sống lương thiện, đại diện cho hình ảnh bà dì. Sự ngu dốt, hèn nhát không dám tự quyết định và vùng lên đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân – đại diện là Thị Nở. Thị là người đưa Chí về bến bờ hoàn lương. Chính ả là công cụ của định kiến và bất công, đẩy Chí đến bi kịch lớn nhất đời mình. Phân tích bài Chí Phèo – ý nghĩa của cái chết Chí Phèo chọn cái chết để bảo vệ phần người còn sót lại trong hắn. Sự ra đi của Chí mang những ý nghĩa hiện thực phê phán và giá trị nhân đạo sâu sắc – Đâm chết Bá kiến là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân khi thức tỉnh về quyền sống. Thể hiện cho quy luật tất yếu Có mâu thuẫn sẽ có đấu tranh. – Chí tự sát là cái chết của con người trong bi kịch đau đớn trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống làm người. Người ta nói kết thúc truyện, Chí đã chết. Thế nhưng cũng có người nói, cái chết đó là để 1 lần hắn được sống, được làm người, được sống cho ra sống. Chí Phèo đã trở thành hình tượng điển hình, xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hàng ngày. Từ Chí Phèo nay được dùng để chỉ những người thích ăn vạ, thô bạo, hay uống rượu say và lèm bèm. Phân tích nhân vật Bá Kiến Phân tích nhân vật Bá Kiến Phân tích bài Chí Phèo, không khó để nhận ra Bá Kiến là nhân vật chính thứ 2 của tác phẩm. Kẻ trực tiếp đẩy Chí Phèo vào con đường tha hóa đạo đức, lương tâm. Trong truyện, Bá Kiến là một tên cường hào máu mặt, nhà bốn đời làm tổng lý “Uy thế nghiêng trời”. Chân dung Bá Kiến được khắc họa mang tính điển hình cao tiếng quát “rất sang”, “cái cười Tào Tháo”. Hắn thao túng con người không chỉ bằng quyền lực, đồng tiền. Mà còn bởi cách “đối nhân xử thế”, thủ đoạn “mềm nắn rắn buông”. Hắn là kẻ khôn lõi đời, biết cách dìm người ta xuống mà tay không tí “bùn”. Hắn biết cách dẫn dắt chính những kẻ mình hãm hại trở nên biết ơn với mình. Khéo léo đập bàn đòi lại 5 đồng nhưng lại đưa cho người ta 5 hào vì “thương anh túng quá”. Chuyện Chí bị đày đi ở tù vì lòng ghen của Bá Kiến với mợ Ba đúng nhưng chưa đủ. Đằng sau cái án oan ấy là sự ngấm ngầm tán thành của Bá Kiến. Để ông ta biến Chí thành một công cụ kiếm tiền. Một tên đòi nợ máu lạnh “không sợ trời, không sợ đất”. Thứ “bản lĩnh” táo tợn, thất đức và tàn bạo mà chỉ có “nhà tù phong kiến” mới đào tạo được. Trước Chí Phèo đã có không ít những tên tay sai làm việc cho Bá Kiến như vậy. Điều đó thể hiện rõ ràng âm mưu và cách cai trị của Bá Kiến nói riêng, của bè lũ quan sai nói chung. Hắn tạo nên một thế lực vững chãi để cai trị và bóc lột, giẫm lên vai người khác một cách rất tinh vi. Bá Kiến là chân dung của giai cấp phong kiến, tầng lớp cai trị tàn độc, đủ tật xấu, nham hiểm. Phân tích bài Chí Phèo – hình ảnh Làng Vũ Đại Làng Vũ Đại nhà cũ của nhân vật được cho là nguyên tác của “Bá Kiến” – Hình ảnh ngôi làng hiện lên qua câu văn “không quá hai nghìn người, xa phủ, xa tỉnh”. Được miêu tả là nằm trong thế “quần ngư tranh thực”. – Không gian làng Vũ Đại đồng thời là không gian nghệ thuật trong tác phẩm. Toàn bộ quá trình từ khi Chí Phèo xuất hiện, trưởng thành và trở nên tha hóa đều diễn ra tại đây. – Làng Vũ Đại là hình ảnh phản chiếu thu nhỏ của xã hội Việt Nam chế độ xưa. Nơi mà bộc lộ sự thối nát của chế độ và sự áp bức của tầng lớp cai trị với tầng lớp dân thường nghèo khổ. – Thoạt nghe ngôi làng này có tôn ti trật tự vô cùng nghiêm ngặt. Nhưng, tất cả điều luật đều là giai cấp thống trị đưa ra và để phục vụ giai cấp thống trị. Hoàn toàn không có thứ gọi là công bằng, nhân đạo hay tình người. – Tầng lớp người nông dân trong xã hội thu nhỏ ở Vũ Đại vô cùng cùng cực. Họ bị đẩy vào đường cùng không lối thoát. Phải lựa chọn giữa cái chết hay sự tha hóa lương tâm vì mưu sinh. Thông qua phân tích bài Chí Phèo. Hình ảnh làng Vũ Đại thể hiện một mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn tầng lớp vô cùng gay gắt. Cụ thể hơn là mâu thuẫn của tầng lớp nông dân và đại chúng với chính quyền phong kiến và thực dân cai trị. Trên đây là phần Phân tích bài Chí Phèo – tác giả, tác phẩm, giá trị nội dung nghệ thuật. Đồng thời phân tích hệ thống nhân vật và cách xây dựng hình tượng điển hình Chí Phèo tiêu biểu cho con người và xã hội Việt Nam trước Cách Mạng. Phân tích bài văn khác Phân tích bài rừng xà nu Phân tích bài người lái đò sông đà Phân tích bài viếng lăng bác Phân tích bài chiếc thuyền ngài xa Phân tích bài Hai Đứa Trẻ Nguồn Kiến thức tổng hợp
Tác phẩm Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Nam Cao nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Đây là một truyện ngắn không chỉ đem lại giá trị nội dung vô cùng sâu sắc, mà giá trị nghệ thuật của nó cũng là một đề tài vô cùng hay trong chương trình Ngữ văn lớp 11 cần ghi nhớ. Cùng tham khảo nội dung chi tiết dưới đây Tóm tắtgiá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo – Nam CaoGiá trị nội dung và nghệ thuật trong Chí PhèoGiá trị nội dung trong tác phẩm Chí Phèo của Nam caoGiá trị nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo của Nam cao Tóm tắtgiá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo – Nam Cao Để có thể ghi nhớ được tất cả những giá trị trong nội dung và cả nghệ thuật thì các em có thể ghi nhớ những chi tiết quan trọng như sau Về nội dung Bạn đang xem Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Chí Phèo – Tố cáo xã hội phong kiến bất công khiến con người sinh ra là người mà lại không được làm người – Thông qua đó nhấn mạnh hình ảnh và bản chất tốt đẹp của người dân lao động ngay cả khi tưởng họ đã bị xã hội tàn bạo cướp đoạt tất cả. Về nghệ thuật – Nghệ thuật điển hình hoá nhân vật – Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình – Nghệ thuật trần thuật, kết cấu mới mẻ, linh hoạt, phóng túng – Ngôn ngữ, giọng điệu sinh động – Cốt truyện độc đáo, các tình tiết giàu kịch tính. Để hiểu rõ hơn về tác phẩm các em có thể tham khảo bài soạn bài Chí Phèo với những phân tích chi tiết để nêu bật giá trị của tác phẩm. Giá trị nội dung trong tác phẩm Chí Phèo của Nam cao – Giá trị hiện thực Sự đàn áp, bóc lột và tàn ác của bọn thực dân, phong kiến đối với những người nông dân trong xã hội xưa Số phận của người nông dân Việt Nam trước cách mạng lại vô cùng thê thảm, bần cùng và trở thành lưu manh. Họ bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa và cái chết là điều tất yếu để giải thoát họ khỏi những đau khổ. – Giá trị nhân đạo Lời kết án đanh thép xã hội thực dân, phong kiến tàn bạo đã phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động hiền lành, chất phác. Dẫn chứng Hình ảnh thu nhỏ của cả một xã hội với tất cả các tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ chính là chân dung của những kẻ như Bá Kiến, như bà cô Thị Nở, như những người dân làng Vũ Đại. Niềm cảm thông, chia sẻ, đau xót khi chứng kiến những con người hiền lành, lương thiện bị dày vò, tha hóa thành con quỷ dữ của cả làng Vũ Đại. Dẫn chứng Kể cả khi Chí Phèo đã khao khát quay trở về làm người lương thiện thì xã hội ích kỉ, hẹp hòi kia cũng sẽ không chừa chỗ lại cho hắn. Hắn chỉ còn một con đường duy nhất là cái chết để giữ lại sự lương thiện cuối cùng trong con người mình. Khẳng định niềm tin của tác giả vào bản chất lương thiện của những người nông dân Dẫn chứng Ngay cả khi họ bị vùi dập, mất cả nhân hình lẫn nhân tính thì khao khát được sống, được yêu thương và hạnh phúc cũng chưa bao giờ bị dập tắt trong họ Là lời cảnh báo của tác giá với số phận của những người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, nếu không thay đổi thì cuộc sống của họ cũng sẽ bế tắc, tuyệt vọng, tha hóa, lưu manh hóa và cái chết sẽ là điều không thể tránh khỏi. Dẫn chứng Điều ấy được thể hiện qua chi tiết Thị Nở nhìn nhanh xuống dưới bụng và lời dự báo về một Chí Phèo con sẽ ra đời. Giá trị nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo của Nam cao 1. Nghệ thuật điển hình hoá nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến là những điển hình đặc sắc trong tác phẩm. Vừa sinh động, độc đáo, không lặp lại, các nhân vật này mang sức khái quát cao cho mối xung đột diễn ra khốc liệt ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo. Hắn là điển hình sinh động cho những người nông dân cố cùng bị hủy hoại, tha hoá đến tận cùng bởi thế lực tàn bạo -> xây dựng nhân vật điển hình sắc nét. 2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình Trong truyện ngắn đã tạo nên những đoạn văn tuyệt bút. Số phận và bi kịch của Chí Phèo được đào sâu cực độ qua những đoạn văn hay như đoạn Chí Phèo thức tỉnh sau đêm say rượu gặp Thị Nở; đoạn Chí Phèo bị cự tuyệt tình yêu… 3. Cốt truyện độc đáo, các tình tiết giàu kịch tính, luôn biến hoá mang lại nhiều bất ngờ cho người đọc Kết cấu vòng tròn, khép kín đã tạo nên chiều sâu cho thiên truyện Mở đầu truyện bằng hình ảnh đứa bé trần truồng xám ngắt nằm bên chiếc lò gạch cũ, kết thúc bằng hình ảnh Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng mình và thoáng nghĩ đến một cái lò gạch xa xôi vắng người qua lại… => Kết cấu này cho thấy số phận bế tắc, quẩn quanh không lối thoát của kiếp người trong xã hội bóc lột. Chí Phèo chết nhưng còn bao nhiêu số kiếp Chí Phèo sẽ lại tái diễn? 4. Ngôn ngữ, giọng điệu sinh động Ngôn ngữ, giọng điệu của Nam Cao được thể hiện một cách sinh động, đa dạng trong truyện ngắn này. Ngòi bút hiện thực vừa tỉnh táo, khách quan, sắc lạnh lại vừa đằm thắm, trữ tình như hòa quyện, xuyên thấm vào nhau. Ngoài ra, giọng trần thuật cũng thay đổi phù hợp với diễn biến tâm lý nhân vật, khi thì dùng lời kể trực tiếp, khi thì nửa trực tiếp, khi lại có sự đan xen giữa hai giọng kể trên một cách nhịp nhàng, nhuần nhuyễn dẫn chứng đoạn văn mở đầu tác phẩm, đoạn miêu tả tâm trạng khi ăn bát cháo hành, đoạn độc thoại nội tâm của Bá Kiến. 5. Cách dẫn chuyện linh hoạt và vô cùng hấp dẫn Đoạn mở đầu rất độc đáo gây ấn tượng mạnh bởi lối trần thuật nửa trực tiếp, có sự đan xen giữa lời người kể chuyện Hắn vừa đi vừa chửi… với độc thoại của nhân vật Ờ! Thế này thì tức thật!…. Tác giả đã phá vỡ trật tự thông thường, dùng lối tự sự theo dòng nội tâm nhân vật để thuật lại diễn biến sự việc. Vì thế, trong lời trần thuật, hiện tại và hồi ức cứ lồng ghép vào nhau đoạn mở đầu, đoạn tả Chí Phèo “bâng khuâng tỉnh dậy sau một cơn say rất dài” ở cuối truyện,…, lời người kể và lời nhân vật có khi nhập vào nhau khiến cho điểm nhìn trần thuật cũng thay đổi một cách linh động lúc thì câu chuyện được thuật lại bằng một cái nhìn khách quan từ bên ngoài, lúc lại chuyển hoá thành điểm nhìn chủ quan của nhân vật từ bên trong. So với dung lượng của một truyện ngắn thì tác phẩm Chí Phèo tương đối dài, nhưng nó không hề nhàm chán bởi cách dẫn chuyện luôn biến ảo cùng những độc thoại nội tâm sinh động chẳng hạn độc thoại nội tâm của nhân vật Chí Phèo sau cơn tỉnh rượu. Kết luận Những cảm nhận và đánh giá khái quát về giá trị của nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo. Có thể nêu ra suy nghĩ và liên tưởng của em về tác phẩm. Trên đây là những nội dung cơ bản đánh giá và phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo – Nam Cao. Mong rằng bài viết này sẽ giúp các em củng cố lại kiến thức về tác phẩm và áp dụng làm dạng bài phân tích giá trị nội dung nghệ thuật của một tác phẩm! Chúc các em làm bài tốt ! Trình bày và phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao trong chương trình học Ngữ văn lớp 11 tập 1. Đăng bởi THPT Ngô Thì Nhậm Chuyên mục Giáo dục
Bài viết Đặc sắc nghệ thuật trong Chí Phèo sẽ phân tích kĩ những đặc sắc nghệ thuật khó lặp lại giúp làm nên thành công của truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao. Tại sao đây lại là tác phẩm sống mãi với thời gian, những đặc sắc đó là gì? Hãy cùng xem bài viết Đặc sắc nghệ thuật trong Chí Phèo “Chí phèo” là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Nam Cao và cũng là tác phẩm tiêu biểu nhất của nền văn học hiện thực phê phán. Thành công của truyện ngắn Chí Phèo không chỉ ở hình tượng nhân vật Chí Phèo mà còn ở bút pháp viết truyện ngắn có một không hai của nhà văn Nam Cao.1. Bút pháp điển hình hoá đạt tới trình độ bậc thầy trong xây dựng nhân vật.Nam Cao có biệt tài trong việc miêu tả, phân tích tâm lý nhân vật. Tác giả có khả năng trong việc miêu tả tâm lý phức tạp của nhân vật, làm cho nhân vật hiện lên trước mắt người đọc rất sống động, có cá tính độc đáo. Nam cao đã sử dụng nhiều thủ pháp, nhiều phương tiện để miêu tả tâmlý nhân vật, tạo nên một chủ nghĩa tâm lý trong sáng tác của ông. Nam Cao thường sử dụng thiên nhiên làm phương tiện để thể hiện trạng thái tâm lý của nhân vật. Khung cảnh thiên nhiên được cảm nhận qua đôi mắt của Chí Phèo sau khi thức tỉnh “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá…” là những âm thanh quen thuộc của cuộc sống mà bấy lâu nay Chí Phèo không nhận thấy, giờ trở thành tiếng gọi tha thiết kéo Chí Phèo trở lại với cuộc sống lương thiện, đánh thức khát khao lương thiện trong tâm hồn Chí Chí Phèo, Bá Kiến là những điển hình nghệ thuật bất hủ. Họ vừa tiêu biểu cho một loại người có bề dày xã hội, vừa là những con người rất cụ thể, có sức sống nội tại mạnh mẽ. Khác với những nhân vật của một số nhà văn đương thời có chức năng chủ yếu là khái quát tính cách nhân vật. “Chí Phèo” của Nam Cao đã khái quát một hiện tượng phổ biến đã trở thành quy luật trong xã hội lúc bấy giờ; hiện tượng những người nông dân nghèo lương thiện do bị áp bức bóc lột đè nén nặng nề bị đẩy vào con đường tha hoá lưu manh. Khi xây dựng nhân vật, Nam Cao tạo ấn tượng bằng hai cách hoặc là miêu tả chi tiết, đặc tả diện mạo bên ngoài, hoặc là chỉ thoáng qua, không vẽ chi tiết cụ thể về diện mạo của nhân vật. Ở những sáng tác viết về người nông dân Nam Cao thường tạo nên những nhân vật dị dạng và tập trung miêu tả chi tiết hình dáng bên ngoài của những nhân vật này. Đó là bộ mặt “nặng chình chĩnh như người phù, da như da con tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang. Cái trán ngắn ngủn, ngắn ngủn lại gồ lên. Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn sề” của Lang Rận. Đó là bộ mặt “vằn dọc vằn ngang không thứ tự biết bao nhiêu là sẹo” của Chí Phèo hay bộ mặt xấu đến mức ma chê qỷ hờn của Thị Nở. Đặc tả những bộ mặt dị dạng, ghê tởm của nhân vật là cách thức để Nam Cao làm rõ hơn tính cách bên trong của nhân vật. Ẩn sâu dưới cái vẻ bề ngoài ghê tởm, đáng sợ ấy là những con người hết sức đáng thương. Do hoàn cảnh xô đẩy mà Chí Phèo từ một người nông dân hiền lành, lương thiện bị biến thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, một kẻ đâm thuê chém mướn, gây ra không biết bao nhiêu tội ác, nhưng rồi Nam Cao vẫn phát hiện ra đốm sáng lương tri còn sót lại trong con người bị tước đoạt cả nhân hình và nhân tính ấy. Chí Phèo thức tỉnh và khát khao trở lại làm người lương thiện. Thị Nở là người đàn bà xấu đến mức ma chê quỷ hờn, nhà lại có dòng giống mả hủi, Thị lại dở hơi nên cả làng Vũ Đại đều xa lánh Thị “người ta tránh Thị như tránh một con vật nào rất tởm”. Một người phụ nữ như thế mà Chí Phèo muốn chung sống làm lại cuộc đời cũng không được xã hội thừa nhận. Khi miêu tả Thị Nở Nam Cao đã sử dung bút pháp cường điệu để tô đậm cái xấu của Thị Nở, Thị Nở càng xấu thì bi kịch của Chí Phèo càng lớn. Khi xây dựng nhân vật người trí thức Nam Cao ít khi miêu tả ngoại hình. Ông chỉ chú ý đến những nét ngoại hình thể hiện tâm lý, tính cách nhân vật mà ông tập trung đi sâu vào đặc tả diện mạo tinh thần nhân vật qua những giằng xé, những cuộc vật lộn căng thẳng về tinh thần bên trong của nhân vật. Tâm lý nhân vật trở thành đối tượng chính của ngòi bút Nam Cao. Tài năng miêu tả tâm lý của Nam Cao thể hiện ở chỗ ông có khả năng nắm bắt những biến thái tinh vi, những rung động tinh tế trong tâm hồn con người. Ông là một nhà văn có biệt tài khi miêu tả những trạng thái tâm lý phức tạp, những hiện tượng lưỡng tính dở say dở tỉnh, dở khóc dở cười, mấp mé ranh giới giữa thiện và ác, hiền với dữ, giữa con người với con vật. Với tài năng bậc thầy Nam Cao đã diễn tả cụ thể, sâu sắc diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp thị Nở. Thị Nở với bát cháo hành tình nghĩa đã làm sống dậy bản chất lương thiện trong con người Chí. Sau bao nhiêu năm ngập sâu trong vũng bùn tội lỗi, giờ đây Chí Phèo lại khát khao trở về với cuộc sống lương thiện. Tuy nhiên nhân vật của Nam Cao còn thể hiện như một nhân vật có cá tính hết sức độc đáo, không lặp lại, vừa đa dạng vừa thống nhất. Chí Phèo vừa là kẻ bán rẻ cả nhân tính, nhân hình để tồn tại, vừa là kẻ dám thủ tiêu sự sống của mình khi nhân phẩm đã trở về. Chí Phèo vừa là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, một thằng triền miên chìm trong cơn say đến mất cả lý trí, vừa là kẻ khao khát lương thiện, muốn làm hoà với mọi người, vừa là một kẻ nô lệ thức tỉnh, một đầu óc sáng suốt nhất, tỉnh táo nhất của làng Vũ Đại khi đặt ra những câu hỏi có tầm khái quát sâu sắc về quyền được làm người lương thiện đến mức Bá Kiến cũng phải ngạc nhiên. Chí Phèo còn là kẻ cố cùng, vừa là người tự xưng “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”. Chí phèo, Binh chức, Năm Thọ trong “Chí Phèo” vốn là những con người lương thiện nhưng bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa, mất cả nhân hình và nhân tính. Viết về những người nông dân bị đẩy vào con đường tha hóa Nam Cao đã lên án gay gắt xã hội bất công, ngang trái đã chà đạp lên nhân phẩm con người, đồng thời phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện vẫn luôn tồn tại ở ngay cả những con người bị tha hóa Nghệ thuật trần thuật kể truyện linh hoạt tự nhiên phóng túng mà vẫn nhất quán, chặt chẽ, đảo lộn trình tự thời gian, mạch tự sự có những đoạn hồi tưởng, liên tưởng tạt ngang, tưởng như lỏng lẻo mà thực sự rất tự nhiên, hợp lý, hấp dẫn.Ở truyện “Chí Phèo”, Nam Cao đã để nhân vật xuất hiện bắt đầu bằng tiếng chửi “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời…”. Cách mở truyện như vậy gây ấn tượng và tạo sự cuốn hút với người đọc về cuộc đời, số phận của nhân vật. Nam Cao cũng hay sử dụng và sử dụng thành công kiểu kết cấu vòng tròn. Đây là kiểu kết cấu mà phần mở đầu và phần kết thúc của tác phẩm có sự tương ứng với nhau; những hình ảnh, những tình tiết xuất hiện ở đầu tác phẩm bằng hình thức này hay hình thức khác, lại được gợi ra một cách đầy ám ảnh ở cuối tác phẩm. Hình thức kết cấu này đòi hỏi một sự sắp xếp hợp lý các sự kiện, các tình tiết tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa chúng. Đọc “Chí Phèo” ta cứ mãi bị ám ảnh bởi hình ảnh “chiếc lò gạch cũ” xuất hiện ở phần đầu và phần cuối tác phẩm. Hình ảnh ấy vừa có ý nghĩa mở đầu và kết thúc, khép lại cuộc đời của một kẻ khốn khổ tủi nhục nhất trong xã hội thực dân phong kiến, vừa như dự báo về sự xuất hiện của một kiếp người mà số phận chắc sẽ còn thê thảm hơn nhiều. Bằng kiểu kết cấu này Nam Cao muốn nói rằng chừng nào xã hội còn nhiều bất công, ngang trái thì chừng ấy vẫn còn nhiều cuộc đời, nhiều số phận như Chí Phèo. Ở truyện “Đời thừa” kết cấu vòng tròn lại tạo ấn tượng sâu đậm về sự luẩn quẩn, bế tắc, không lối thoát của nhân vật Hộ. Là một nhà văn có lý tưởng, có hoài bão nhưng vì lẽ sống tình thương, vì gánh nặng gia đình Hộ buộc phải hi sinh lý tưởng, viết dễ dãi để nuôi sống gia đình, vì vậy mà Hộ luôn day dứt, tự dày vò bản thân, Hộ tìm đến rượu để quên đi những đau đớn về tinh thần. Lúc say Hộ đối xử với vợ con như một kẻ vũ phu, nhưng khi tỉnh lại Hộ lại vô cùng hối hận, tuyên bố sẽ chừa rượu, nhưng rồi Hộ lại uống và lại thô bạo với vợ con …sau đó lại ăn năn, hối hận. Kết cấu vòng tròn của tác phẩm đã góp phần làm nổi bật tấn bi kịch tinh thần luẩn quẩn, không lối thoát của nhân vật Ngôn ngữ của Nam Cao cũng đặc biệt tự nhiên, sinh động, sử dụng khẩu ngữ quần chúng một cách triệt để, mang hơi thở đời sống, giọng văn hoá đời sống.Ngôn ngữ kể chuyện vừa là ngôn ngữ của tác giả, vừa là ngôn ngữ của nhân vật, nhiều giọng điệu đan xen, tạo nên một thứ ngôn ngữ đa thanh đặc Khắc họa chi tiết nghệ thuật độc đáo.– Tiếng chửi của Chí Phèo là một “đặc sản” trong truyện. Cứ rượu vào là hắn chửi. Hắn chửi tất cả từ trời đời cả làng Vũ Đại “cha đứa nào không chửi nhau với hắn” “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn”. Đối tượng chửi đã được xác định xã hội thực dân nửa phong kiến đã sinh ra cái thằng Chí Phèo, đối tượng chửi qua đó cũng thu hẹp dần chứng tỏ Chí đang rơi vào ngõ cụt của sự bế tắc. Hắn lồng lồng chửi chỉ mong có ai đó chửi lại hắn, thế nhưng cái mà Chí nhận được là “trời có của riêng nhà nào” “đời là tất cả nhưng chẳng là ai” “không ai lên tiếng cả” “không ai ra điều” “nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo”. Đáp lại tiếng chửi ấy trớ trêu thay lại là “tiếng chó cắn lao xao”. Chí chửi tức là Chí muốn giao tiếp với mọi người nhưng tất cả đều im lặng, chỉ có “ba con chó dữ với một thằng say rượu”. Chí đã bị đánh bật ra khỏi xã hội loài người, tiếng chửi trở nên vật vã, tuyệt vọng. Tiếng chửi của Chí là tiếng nói đau thương của một con người ý thức về bi kịch của mình sống giữa cuộc đời nhưng đã mất quyền làm người Đó chính là sự đau xót của nhà văn đối với nhân vật của mình. – Chi tiết bát cháo hành của Thị Nở giống như một phép màu làm thức tỉnh con người. Hình ảnh này xuất hiện ở phần giữa truyện. Chí Phèo say rượu, gặp Thị Nở ở vườn chuối. Khung cảnh hữu tình của đêm trăng đã đưa đến mối tình Thị Nở – Chí Phèo. Sau hôm đó, Chí Phèo bị cảm. Thị Nở thương tình đã về nhà nấu cháo hành mang sang cho hắn. Bát cháo hành trong cảm nhận của Chí “Nồi cháo còn nóng nguyên… vừa mang sang Thị đã đi tìm gạo, hành thì may nhà lại còn”. Bát cháo hành khiến Chí rất “ngạc nhiên” và thấy “mắt như ươn ướt” bởi vì đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà. Bát cháo hành khiến Chí bâng khuâng nghĩa ngợi. Hắn cảm nhận “Cháo mới thơm làm sao”. Bát cháo là sự quan tâm của Thị dành cho hắn. Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm. Hắn nhận ra cháo hành rất thơm ngon. Bất cháo hành giản dị trong cảm nhận của Chí là thứ rất ngon, đó là chi tiết khiến hắn lần đầu tiên và cũng là duy nhất cảm thấy được quan tâm, nó đánh thức nhân tính bấy lâu nay bị vùi lấp trong Chí. Bát cháo hành là sự thể hiện tình yêu thương của Thị Nở dành cho Chí phèo. Đó là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng. Đó còn là liều thuốc giải cảm và giải độc tâm hồn Chí gây ngạc nhiên, xúc động mạnh, khiến nhân vật ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm hiện tại của mình. Nó khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện. Như vậy, bát cháo hành đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay ở Chí Phèo. Hình ảnh bát cháo hành có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật, góp phần thể hiện sinh động tư tưởng Nam Cao tin tưởng vào sức mạnh cảm hoá của tình người. – Xây dựng kết cấu vòng trò đầu cuối tương ứng rất đặc sắc. Sau khi Chí Phèo chết, ở phần kết thúc tác phẩm, Thị Nở lại xuất hiện. Thị “nhớ lại lúc ăn nằm với hắn… rồi nhìn nhanh xuống bụng”, “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng bóng người lại qua…”. Cử chỉ và ý nghĩ của thị khiến người ta nghĩ tới sẽ lại có một Chí Phèo con ra đời …. Hình ảnh “cái lò gạch cũ” xuất hiện trong ý nghĩ của Thị ở đây nằm trong ý đồ nghệ thuật của nhà văn Một kiểu kết cấu tác phẩm đầu cuối tương ứng – kết cấu vòng tròn. Mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và địa chủ cường hoà một lần nữa được nhấn mạnh tô đậm. Bá Kiến chết thì có lí Cường, Chí Phèo chết thì có một Chí Phèo con sẽ xuất hiện. Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ cường hào khi âm ỉ, khi bùng lên dữ dội, song không thể giải quyết. Vấn đề những con người lao động lương thiện bị xã hội đẩy vào con đường lưu manh cùng quẫn quay lại chống trả với xã hội bằng chính sự lưu manh của mình là vấn đề thuộc về bản chất, là quy luật tất yếu khi xã hội thực dân phong kiến còn tồn tại. Hình ảnh “cái lò gạch cũ” nằm trong ý đồ nghệ thuật và là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Nam hình ảnh này, chủ đề của thiên truyện được khơi thêm những chiều sâu mới. * Nhận xét Với tất cả những đặc sắc nghệ thuật ấy, “Chí Phèo” đánh dấu một trình độ phát triển mới của văn học và nghệ thuật viết truyện ở nước ta.
nghệ thuật chí phèo